<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	>

<channel>
	<title>Acoustic &#38; Electric Guitar Website</title>
	<atom:link href="http://www.aeguitar.org/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.aeguitar.org</link>
	<description>Where acoustic and electric guitars talk!</description>
	<pubDate>Fri, 28 Nov 2008 15:45:37 +0000</pubDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.6.3</generator>
	<language>en</language>
			<item>
		<title>Line6&#8217;s Hardcore Fan&#8217;s Handbook</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/line6s-hardcore-fans-handbook/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/line6s-hardcore-fans-handbook/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 Nov 2008 14:38:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Guitar Gears]]></category>

		<category><![CDATA[Guitar Gear]]></category>

		<category><![CDATA[Line6]]></category>

		<category><![CDATA[recording]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=183</guid>
		<description><![CDATA[
&#8212; Symphony X &#8212;
(Y!M: symphonicmind - Feel free to ask me any question)
Đây là nỗ lực rất lớn của tớ nhằm giúp Line6&#8217;s Products trở nên gần gũi với dân chơi Guitar ở VN hơn. ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/xtlive-3.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-184" title="xtlive-3" src="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/xtlive-3-300x160.jpg" alt="" width="300" height="160" /></a></p>
<p style="text-align: right;"><em><strong>&#8212; Symphony X &#8212;</strong></em></p>
<p style="text-align: right;"><em><strong>(Y!M: symphonicmind - Feel free to ask me any question)</strong></em></p>
<p>Đây là nỗ lực rất lớn của tớ nhằm giúp Line6&#8217;s Products trở nên gần gũi với dân chơi Guitar ở VN hơn. Tài liệu này được xây dựng từ những kinh nghiệm bản thân và kết hợp tài liệu tham khảo của:</p>
<p>- Wipedia</p>
<p>- Line6.com</p>
<p>- Line6 Model Pack&#8217;s handbook</p>
<p>- Line6 PODxt Manual</p>
<p>__________________________________________________  _________________</p>
<p><strong><span style="font-size: medium;">Line6’s Hardcore Fan’s Handbook</span></strong></p>
<p><strong>1.   POD Family<br />
</strong></p>
<p><strong>1.1.    History</strong></p>
<p><strong>1.1.1.   Line6</strong></p>
<p>Thông tin sơ qua về Line6: Line6 thành lập vào giữa thập kỉ 90 ở Calabasas, California. Hãng chuyên nghiên cứu các công nghệ/thiết bị số giả lập Amplifier, Effect Processor, Electric/Acoustic Guitar (vãi đái chưa <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" /> Guitar nó cũng giả lập thì chả hiểu còn gì k nằm trong tay nó nữa T_T). Sau vài năm nghiên cứu miệt mài, Line6 cho ra đời Digital Amplifier giả lập Amplifier thật sử dụng công nghệ kĩ thuật số (Digital) đầu tiên trên thế giới có tên AxSys 212.</p>
<p>Các sản phẩm của Line6 nhìn chung đều dễ sử dụng, thân thiện với máy tính (kết nối, điều chỉnh trên máy tính dễ dàng). Điều đặc biệt nhất chính là khả năng cập nhật Firmware (đại để là phần mềm điều khiển phần cứng được bắn thằng vào bộ nhớ ROM (Read-Only-Memory: Chỉ xem, cấm sờ <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" />)) từ Internet vào thiết bị. Bạn có thể cập nhật các bản sửa lỗi, các hiệu ứng, amp/cab… mới từ website của hãng, thậm chí là cập nhật từ model này sang model mới hơn (Ví dụ điển hình: Vetta I có thể cập nhật để chuyển lên Vetta II). Thêm nữa Line6 có 1 cộng đồng user cực hoành tráng và năng động, từ forum đến Customtone.com. Bạn có thể tải các tone của các user khác về và sử dụng ngay lập tức chỉ với vài cái click chuột).</p>
<p><strong>1.1.2.   Cuộc cách mạng kì diệu của công nghệ Xử lý tín hiệu số (DSP)</strong></p>
<p>Các kĩ sư của Line6 thưở ban đầu được thuê về làm việc trong 1 phòng thí nghiệm bí mật với rất nhiều amp đắt tiền. Họ nghiên cứu về các thiết bị sử dụng bóng đèn (Tube), sự đáp ứng khác nhau của các loại bóng khác nhau ở những bản thiết kế amplifier nhất định. Cách tube xử lý tín hiệu đầu vào, “nhuộm màu” và “uốn nắn” nó, ở mức độ nào thì tín hiệu bị méo (distort) và chất lượng/đặc điểm của âm thanh distort đó, điều gì xảy ra khi tín hiệu này được chuyển tới các thành phần khác của hệ thống – vô cùng phức tạp nhưng tất cả đều có thể phân tích được dưới dạng dữ liệu điện tử.</p>
<p>Sau khi đã thu thập đủ kiến thức và kinh nghiệm cần thiết, họ bắt tay vào việc tái tạo lại các quá trình xử lý tín hiệu phức tạp của tube amp và thiết bị điện tử trong môi trường Digital 100%. Họ cũng nhận thức được tầm quan trọng của Speaker Cabinet trong âm thanh tổng thể và các hiệu ứng như EQ, Delay, Compressor, Reverb… giúp tô điểm cho “hạt đậu thần” thêm hoàn hảo.</p>
<p>Amp, Cabinet, Effect Models</p>
<p>Thành quả nghiên cứu về tone và công nghệ của Line6 được mang tới người dùng dưới dạng các Amp, Cab, FX Model dựa trên 1 bộ sưu tầm Gear đã được chứng nhận bởi các guitarist trên toàn thế giới:”Tone Classics”. Những Model này được căn chỉnh rất cẩn thận, so sánh có nhóm chứng (A/B Comparison) 1 cách khoa học với thiết bị thật, đồng thời theo dõi sát sao những thay đổi do biến đổi cường độ âm thanh, setting của tone gốc và nút Gain.    Những đặc tính âm học của Gain và EQ của gear được chọn để model đều được đo lường rất cẩn thận do đó những tác động đối với những nút này trên gear đó đều có hiệu quả tương ứng với gear giả lập với độ chính xác cao nhất. Yếu tố trọng yếu mà các kĩ sư muốn đề cập tới ở đây là những tần số trung tâm điều khiển tone, độ mạnh và độ rộng của của quá trình cắt/nâng các tần số nhất định được phân tích vô cùng tỉ mỉ, thêm nữa là toàn bộ các thành phần độc đáo của gear. Không chỉ có vậy, những amp và FX cổ điển có mạch điện mang tính tương tác rất cao. Họ nghiên cứu cực kì kĩ lưỡng những thay đổi có thể ảnh hưởng tới các nút khác khi vặn 1 nút nào đó. Tất cả những nỗ lực đó nằm mang lại những model giả lập sao cho giống với bộ sưu tầm của họ nhất. Kết quả là những đứa con tinh thần/vật chất POD, PODxt… cứ nối đuôi nhau ra đời.</p>
<p><strong>A.I.R Technology – Điều kì diệu trong hạt đậu nhỏ.</strong></p>
<p>Bí quyết tối thượng của Line6 cho đến thời điểm này chính là công nghệ A.I.R™ Modeling (acoustically intergrated recording) giúp thiết bị của hãng giả lập 1 cách chính xác âm sắc, tương tác của Speaker Cabinet, Microphone và đặc tính âm học của căn phòng đặt Cabinet trong quá trình thu âm. Kết quả là âm thanh cho ra nghe không thua gì âm thanh từ 1 chiếc Amp hay, được thu tín hiệu bằng 1 micro rất ngon bởi 1 kĩ sư giỏi trong 1 phòng thu xịn! <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" /> Các bạn nên chú ý: từ việc có 1 cái amp thật đến việc đặt mic thu âm rồi đưa vào máy tính không hề đơn giản. Amp xịn mà k biết cách đặt mic thì cũng như không.</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image002.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 1 - Miking 1 Guitar Amp - 1 công việc k hề đơn giản!</strong></p>
<p>Ngõ xuất tiếng trực tiếp của rất nhiều Pre-Amp, Amplifier và DirectBox dạng thay thế amp (Sansamp GT2 là 1 ví dụ điển hình) có sẵn hiện nay chỉ cung cấp 1 số dạng rất hạn chế của chức năng giả lập cabinet hoặc speaker. Chúng hầu như chỉ được đưa ra dưới dạng loại bỏ đi những tần số cao 1 cách đơn giản hoặc không hề có tùy chọn gì.</p>
<p>Ví dụ: SansAmp GT2 cho âm thanh PreAmp rất hay nhưng chức năng Cabinet Simulator thì lại rất tệ và k hề có option nào để remove nó đi cả. Và khi các bạn cắm Sansamp GT2 vào amp có nghĩa là các bạn đã đưa tín hiệu guitar vào 1 chuỗi xử lý gọi là (OverProcessed): Guitar -&gt; preAmp -&gt; Cabinet (giả lập của GT2) -&gt; Mic (giả lập của GT2) -&gt; PreAmp (amp của bạn, vd: JCM800) -&gt; PowerAmp -&gt; Cabinet (của JCM800) -&gt; Mic -&gt; PreAmp soundcard hoặc Mixer P.A. Nếu cắm vào ngõ của FX Loop và bỏ qua PreAmp của JCM800 thì bạn vẫn đưa tín hiệu qua 2 LẦN MIKING! Pre-Amp1 -&gt; Cab1 -&gt; Mic1 -&gt; Power 2-&gt; Cab2 -&gt; Mic2. Tín hiệu dạng như vậy k thể chấp nhận để recording dù nghe ngoài có vẻ rất bùi tai. Rất xin lỗi các fan của SansAmp, nhưng đó là sự thật.</p>
<p>Những công cụ giả lập cabinet thông thường không thể tái hiện lại những chi tiết khác biệt của loại gỗ, củ loa và các chi tiết khác của 1 Cabinet thực. Một số thiết bị khác lại thất bại khi không thể giả lập được âm sắc của những chiếc Microphone khác nhau và sự thay đổi qua các vị trí đặt khác nhau. Và không có 1 thiết bị nào có thể tái tạo lại mặt âm học của CĂN PHÒNG đặt Cabinet để thu âm đó.</p>
<p>Những thiết bị dạng này đều cho ra những kết quả đáng thất vọng dù tone cơ bản khi xuất từ preamp của chúng rất khá. Thất bại trong việc tái tạo âm sắc của Cabinet, Mic và không gian phòng thu đồng nghĩa với việc tạo ra 1 thứ âm thanh thiếu sức sống. Nếu bạn thay đổi cỡ dây, ví dụ gấp đôi cỡ hiện tại chẳng hạn rồi cắm qua các thiết bị đó, âm thanh sẽ thực sự trở nên Lifeless.</p>
<p>POD XT là sự kết hợp của Amp Modeling và công nghệ A.I.R mang lại âm thanh trực tiếp cho thu âm (DIRECT TONE – khái niệm này k bao giờ có với các loại phơ cục như MetalZone, MetalCore, Tubeman, HotBritish, TubeKing…) bằng cách tái tạo lại tất cả các yếu tố hình thành nên 1 track guitar hoàn hảo và mang lại cảm giác như chơi qua 1 guitar amp thật được nối với Cabinet và Miking bởi 1 kĩ sư hàng hiệu :&gt; :</p>
<p>-      Amp Model được giả lập dựa trên sự mô phỏng chính xác mạch điện thật.</p>
<p>-      Trong 1 Guitar Amp, tín hiệu được truyền qua các linh kiện điện tử, xuất ra 1 hoặc nhiều speaker trong Cabinet. Cách thiết kế của các speaker, có bao nhiêu speaker trong cabinet, chúng được sắp xếp như thế nào, kết cấu và loại gỗ  ảnh hưởng lớn tới guitar tone của bạn. 1 cái Head Marshall nối với 1 cabinet dạng Open Back (đằng sau cabinet k đóng kín) có 1 speaker cỡ 12 inch sẽ cho âm thanh khác hoàn toàn so với cùng cái head đó nối với 1 cabinet ClosedBack (phía sau đóng kín) cỡ 4&#215;12. Line6 đã nghiên cứu cẩn thận và giả lập lại toàn bộ trong môi trường 100% digital cho ra kết quả quá đáng tự hào so với các hãng cạnh tranh khác như Digitech và Boss (cái này thì cãi đi đâu được, thử chức năng đó của GT10 và GNX4 đi <img class="inlineimg" title="71" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/71.gif" border="0" alt="" /> ).</p>
<p>-      Sau khi tín hiệu âm thanh du ngoạn qua Speaker của Cabinet và được tái hiện ở đó, 1 thiết bị quan trọng trong quá trình thu âm sẽ tiếp nhận nó đó là Microphone. Mỗi 1 loại Microphone, đặt ở 1 vị trí khác nhau, với 1 góc độ khác nhau sẽ cho ra âm thanh bố của khác nhau. <img class="inlineimg" title="4" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/4.gif" border="0" alt="" /> Đặt ở giữa tâm của củ loa và thẳng góc 90 độ sẽ cho âm thanh khác hẳn với khi đặt ở góc giữa các loa trong 1 cabinet. Line6 đã phân tích âm thanh được nhuộm màu ra sao với mỗi sự thay đổi đó và nhét cho hạt đậu thần thêm căng tròn và mũm mĩm :”&gt; .</p>
<p>-      Guitar Amp, Cabinet và Microphone trong thực tế không được đặt ở 1 khoảng không trống rỗng (như thế thì làm j có âm thanh =.= ). Căn phòng đặt Cabinet ảnh hưởng lớn tới âm thanh thu được sau quá trình Miking. Âm thanh phát ra từ cabinet dội lại từ sàn nhà, nóc nhà, tường, vật dụng trong phòng… được giả lập bằng Reverb. Ví dụ: tiếng guitar được miking trong 1 căn phòng dạng BedRoom của HomeStudio không có các tấm cách âm gắn trên tường thường có cường độ rất cao ở tần số từ 100-150hz &#8212; cái này nằm trong vùng được gọi là um đây =.= Nhưng có 1 chi tiết nhỏ mà cực quan trọng đó chính là cách âm thanh di chuyển qua không khí từ màng loa đến microphone (khái niệm này gọi là Spead). Yếu tố này tạo ra sự khác biệt giữa vị trí của người đặt mic/guitarist trong căn phòng đó và âm thanh được record lại.</p>
<p>Tất cả các yếu tố quan trọng này đều được tái hiện chính xác trong hạt đậu thần nhỏ bé. <img class="inlineimg" title="8" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/8.gif" border="0" alt="" /> Điều bạn cần làm chỉ đơn giản là chọn lấy 1 amp, Line6 sẽ tự chọn cabinet và mic phù hợp nhất với nó. Tweak (căn chỉnh) 1 chút nữa là có ngay 1 tone sẵn sàng để record rồi <img class="inlineimg" title="71" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/71.gif" border="0" alt="" />.</p>
<p><strong>1.1.1.   POD Family</strong></p>
<p>Theo như những gì bổn hãng Line6 mô tả và đồng thời cũng được cả thế giới chấp nhận (k biết có quá lời k :”&gt;), POD Family ra đời đã làm nên một cuộc cách mạng công nghệ thu âm mà không cần đến những hệ thống thiết bị lằng nhằng và phức tạp. Với bất cứ bạn POD nào trong tay đều đồng nghĩa với việc bạn đang “sở hữu” hàng đống Bass/Guitar Amplifier, Cabinet, Sound Effect huyền thoại mà không cần phải đục két sắt hay cướp ngân hàng. Cầm guitar lên, cắm vào POD, nối ra PA System (những hệ thống âm thanh lớn phục vụ cho nhiều người) hoặc Amplifier và thưởng thức!</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image004.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 2 - Quả bom tấn hình hạt đậu!</strong></p>
<p>Vào thời điểm rối ren loạn lạc khi thế giới chuẩn bị bước sang kỉ nguyên mới, Line6, 1 hãng điện tử non trẻ đã thả 1 quả bom tấn vào làng giải trí và công nghệ thu âm với khái niệm: Direct Recording <img class="inlineimg" title="71" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/71.gif" border="0" alt="" />. K Cần phải lấy mic thu lại tín hiệu từ cabinet, vòng vèo qua hệ thống Effect lằng nhằng rồi vào preamp -&gt; DAW… Chuỗi tín hiệu được rút ngắn lại chỉ còn guitar -&gt; POD -&gt; DAW (Digital Audio WorkStation – 1 hệ thống sử dụng kết hợp cả phần cứng và phần mềm để “điều chế nhạc”) với chất lượng (so với giá tiền) làm kinh ngạc cả những sound engineer khó tính nhất. Nhưng sự thực, “quả bom” ý chỉ nặng vẻn vẹn có 5 lạng với cái tên POD 2.0 (hiện tại tớ chưa tìm được thông tin về POD 1.0 (không biết nó có … tồn tại hay k nữa :”&gt;) nên tạm thời coi POD 2.0 là sản phẩm đầu tiên trong POD Family) và có hình hạt đậu – nhìn rất KUTO. <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" /> Như 1 hệ quả tất yếu, Line6 liên tục giành được vô số các giải thưởng danh giá về âm thanh của các tạp chí hàng đầu thế giới. Điển hình:</p>
<p>-      “Sản phẩm số 1 trong vòng 10 năm trở lại đây! Thật là vãi lìn!” – Total Guitar.</p>
<p>-      Giải thưởng “Editors’ Pick”.</p>
<p>-      Giải thưởng của Key Buy 1999.</p>
<p>-      Sản phẩm số 1 trong top ten 2000.</p>
<p>-      Giải thưởng Cách tân Công nghệ 1999</p>
<p>-      Giải thưởng của TEC</p>
<p>-      Giải thưởng của tạp chí âm nhạc quốc tế Musikmesse 2000.</p>
<p>Liệu bấy nhiêu đó đã đủ để thuyết phục bạn chú ý hơn tới hãng điện tử số 1 này chưa? <img class="inlineimg" title="5" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/5.gif" border="0" alt="" /></p>
<p>Từ khi khởi đầu với POD2.0, hiện POD Family đã có tổng cộng 11 sản phẩm cho guitar và 4 sản phẩm cho bass được chia làm 3 loại: Mobile, Studio và Live.</p>
<p>Danh sách:</p>
<p>-      Mobile: Pocket POD Express, Pocket POD</p>
<p>-      Studio: POD2.0, PODxt, PODxt Pro, PODX3, PODX3 Pro</p>
<p>-      Live: FloorPOD, FloorPOD Plus, PODxt Live, PODX3 Live</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image006.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 3 - Mơ ước của các Metal Guitarist! Đối thủ bất khả bại của Boss, Digitech</strong></p>
<p>Sản phẩm mới nhất trong POD Family hiện tại là POD X3 Pro với đặc tính đã nổi đình nổi đám từ Vetta II series đó là Dual Tone – giúp người chơi có được âm thanh như chơi bằng 2 rig cùng 1 lúc. Và thêm nữa series X3 này có thêm 1 Input nữa dưới dạng XLR Mic input và FX Loop (có giá trị hơn kiểu Loop của Boss GTx rất nhiều), ở X3 Pro thì có  2 input cho guitar, 2 input cho mic. Danh sách các thiết bị giả lập được bổ sung thêm 1 số Mic PreAmp nổi tiếng cho Vocal, và 2 mic nữa. Quan trọng nhất là sự cải thiện về chất lượng âm thanh ở 1 số amp, điển hình là Soldano SLO 100. Về khía cạnh recording, ở series X3 cho phép thu đa kênh và sử dụng giao tiếp USB 2.0 với tốc độ nhanh hơn.</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image008.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 4 - RackMount quen thuộc của các Studio</strong></p>
<p>Về thiết kế sản phẩm, ai có thể địch lại Line6? Không chỉ là những kĩ sư vi tính, điện tử, âm thanh. Họ còn là những nghệ sĩ và rocker thực thụ. Các sản phẩm nếu k mang 1 phong cách dễ thương/nhí nhảnh (POD xt, Pocket POD) thì lại vô cùng trâu bò và hầm hố (PODxt, POD X3, POD X3 Pro, TonePort UX8). Thỏa mãn từ nghe đến nhìn, liệu bạn còn mong chờ gì hơn?</p>
<p>Không ai có thể phụ nhận mức độ phổ biến của POD Family trong các Pro Studio/Home Studio và Live Show ở trên thế giới. Các diễn đàn âm nhạc, studio, user community của các sản phẩm không liên quan đến guitar (ví dụ: Toontrack – Drum Synthesizer) cũng liên tục thấy POD trong danh sách các thiết bị thu âm của member.</p>
<p>Hiện tại ở Việt Nam, Line6 FC cũng đã được thành lập. Dù chưa lâu nhưng cộng đồng Line6 ở Việt Nam cũng đã có những bước khởi đầu rất ấn tượng với hàng loạt demo được đưa lên diễn đàn aeguitar.org và các bản thu âm chuyên nghiệp khác. Như là 1 kết quả tất yếu, chất lượng của POD Family so với giá tiền đã mê hoặc các rocker Việt Nam một cách nhanh chóng. Line6 FC đang ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt và ngày càng có nhiều Hardcore Fan <img class="inlineimg" title="19" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/19.gif" border="0" alt="" /> .</p>
<p><strong>1.2.    Installation</strong></p>
<p>Chưa có 1 hãng nào có loạt sản phẩm về guitar mà lại thân thiện với máy tính như Line6. Tất cả các thao tác căn chỉnh, thu âm, cập nhật, nâng cấp đều được thực hiện trên giao diện phần mềm hết sức trực quan và dễ dàng – IN YOUR FACE. :&gt; Điều này là ước mơ với rất nhiều đối thủ cạnh tranh như Boss GT, Digitech và V-Amp (Pé Nu nhở :-“). Như đã giới thiệu ở trên, sau khi cài đặt POD vào máy tính, bạn có thể căn chỉnh, trao đổi tone với user community cực mạnh của Line6, cập nhật driver/firmware, nâng cấp/mua thêm/chuyển đổi các gói phần mềm hoặc thậm chí thay đổi cả model sản phẩm như Vetta I -&gt; Vetta II! Vãi lìn!!!</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image010.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 5 – Cái gì có thể đánh bại được giao diện này?</strong></p>
<p><strong>1.2.1.   Cài đặt Driver.</strong></p>
<p>Công đoạn này đã quá quen thuộc với anh em hay tí toáy máy tính. Driver là 1 phần mềm giúp cho máy tính nhận biết được thiết bị và điều khiển các chức năng của nó. Công cụ sẽ đi với các Line6 Fan từ đầu đến cuối phần này là Line6 Monkey (theo cách lý giải của anh Phương: đến khỉ cũng làm được thì người chả lẽ không? <img class="inlineimg" title="21" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/21.gif" border="0" alt="" />). Phần mềm Line6 Monkey có giao diện rất đơn giản, nó sẽ giúp các bạn: Kiểm tra/cập nhật driver/usb driver/firmware mới nhất cho thiết bị, thông cáo các gói phần mềm cập nhật/thương mại mà chú POD của bạn có). Việc cần làm của bạn bây giờ là ngay lập tức lên website của Line6 tạo 1 account nếu chưa có, download Line6 Monkey hoặc GearBox với hệ điều hành tương ứng. Việc chạy và cài</p>
<p>Download Line6 Monkey và các phần mềm của Line6 tại: <a href="http://line6.com/software/index.html" target="_blank">http://line6.com/software/index.html</a><br />
<img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image012.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 6 - Với Line6 Monkey, mọi thứ đã trở nên rất đơn giản và tiện lợi.</strong></p>
<p>Những phần mềm nào chưa được Up-To-Date trong hệ thống của bạn sẽ được đánh dấu cảnh báo màu vàng có chấm than. Việc cập nhật cực đơn giản, click chọn phần mềm đó, liếc sang phải, ấn Update Selection và… ngồi đợi nó download sau đó làm theo hướng dẫn trên màn hình. Chú ý, khi thực hiện những công việc này, bạn nên nối POD vào với máy tính để kết quả kiểm tra mục USB Firmware, Flash Memory và các Add-ons cài thêm được chính xác (trừ quá trình cài driver – bạn phải disconnected PODxt với máy tính, sau khi cài xong thì mới được connect trở lại).</p>
<p><strong>1.2.2.   Cài đặt phần mềm quản lý POD.</strong></p>
<p>Khái niệm phần mềm quản lý POD được đưa ra ở đây bao gồm chỉnh sửa tone (online/offline), sắp xếp các tone trong bộ nhớ của POD và máy tính, sao lưu/phục hồi hàng loạt (cái này có thể làm trên L6 Monkey). Line6 cung cấp 2 công cụ có tính năng tương đương đó là GearBox và Line6 Edit. Hiện chỉ có GearBox bản mới 3.7 có hỗ trợ Dual-Tone.</p>
<p>Sự khác biệt giữa Gearbox và Line6 Edit: GearBox là 1 giải pháp tổng thể ôm đồm tất cả mọi thứ từ Driver của các thiết bị Line6, Driver, Line6 Monkey, Control Panel, kết nối với GuitarPort Online, Backing track player đến Metronome +_+. Line6 Edit chỉ đơn thuần là 1 chương trình chỉnh sửa, quản lý tone. Nhưng có 1 vấn đề to đùng là 1 số tone tạo ra từ 2 cht này mà tại hạ có k hiểu được trong cht kia <img class="inlineimg" title="22" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/22.gif" border="0" alt="" /> Có lẽ sau khi update bản Gearbox mới nhất sẽ thử lại xem sao (cái này phải lên trường down thôi, down ở nhà có mà bán thận đi trả tiền nét T_T). Cá nhân tôi thích Line6 Edit hơn vì trong chế độ Offline, GearBox không thể sử dụng các Amp/FX có trong các Model Packs (chán chưa =.=).</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image014.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 7- Gearbox 3.6 tỏa sáng bên Leah Dizon <img class="inlineimg" title="8" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/8.gif" border="0" alt="" /></strong></p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image016.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 8 - Line6 Edit. Simple &amp; Sexy</strong></p>
<p>Với những chương trình này, việc chỉnh sửa, lưu, trao đổi tone trở nên quá đơn giản nên tớ dừng ở đây. Dánh sức cho những phần rất hấp dẫn phía sau.</p>
<p><strong>1.3.    Recording</strong></p>
<p>Đây chắc chắn là 1 trong những phần hấp dẫn và mong chờ nhất của Line6 User. Với PODxt trở lên, anh em đã làm quen với khái niệm USB Direct Recording. Không cần biết soundcard bạn đang dùng là gì, chỉ cần nối POD với PC/Laptop qua cổng USB, ấn nút, record, bạn đã có ngay 1 track guitar với chất lượng tuyệt vời. Tín hiệu sạch sẽ và mạnh mẽ. Và trong phần này, tôi CHỈ nói về USB Direct Recording.</p>
<p>Line6 cho phép ae thu âm 1 cách cực kì đơn giản với rất nhiều tùy chọn. Trước khi bắt đầu thu âm, chúng ta liếc qua Line6 Control Panel 1 tí đã. Cái này rất quan trọng (Vào Control Panel -&gt; Line6 Audio/MIDI Devices).</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image018.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 9 - Line6 Control Panel. Đơn giản với rất nhiều tùy chọn.</strong></p>
<p><strong>Có 2 mục cần lưu ý: Driver Format và ASIO Settings.</strong></p>
<p><strong>a)  Driver Format:</strong></p>
<p>-      <strong>Default Sample Rate:</strong> Cái này quy định tần số lấy mẫu của âm thanh, giá trị này cao chưa hẳn chất lượng âm thanh đã cao hơn (cái này tớ mới đọc được 1 tài liệu so sánh giữa 44100 Hz và 96000 Hz nên sẽ giải thích sau – đại để là sự khác biệt âm thanh mang lại giữa 2 mức lấy mẫu âm thanh này lại <strong>k hề nằm ở con số kia</strong> mà chính là ở Filter của thiết bị, cái này do 1 Mastering Engineer rất nổi tiếng so sánh nên khỏi nghĩ về độ tin cậy, trừ khi bạn cho rằng bạn giỏi hơn anh ý :-“). Với PODxt thì có 2 lựa chọn 44100 và 48000. Dòng Pro thì có thêm 92000Hz Nếu máy tính của bạn thuộc loại trâu chó, CPU khỏe như lực sĩ và đĩa cứng rộng mênh mông thì cứ việc chọn con số cao hơn. Nhưng với nhu cầu thu âm thông thường và export ra bản Final Mixdown cho Mastering Engineer thì 44100 Hz là đủ. (Project Settings của Cubase SX dành cho Mastering cũng chỉ ở mức 24bit 44100Hz thôi <img class="inlineimg" title="71" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/71.gif" border="0" alt="" />).</p>
<p>-      <strong>Default Bit Depth</strong>: Con số này hiểu nôm na là ĐỘ PHÂN GIẢI CỦA ÂM THANH. Ở phạm vi Audio, nó có nghĩa là số bit được dùng để ghi lại 1 sample, cái này chỉ có ở âm thanh kĩ thuật số. Khái niệm này còn được mô tả bởi từ Word Length. Con số này càng to thì khả năng tái hiện âm thanh Digital càng chính xác. Ae cứ tưởng tượng tín hiệu Analog nó là 1 hình sin liên tục, tín hiệu digital là 1 loạt các đoạn thẳng nối với nhau để mô phỏng lại  hình sin đó. Độ dài các đoạn thẳng càng nhỏ thì việc mô phỏng càng chính xác tương ứng với số lượng các đoạn thẳng càng phải nhiều hơn. Khi thu âm, hãy chọn Bit Depth cao nhất có thể, thông thường là 24bit. Ae k nên nhầm lẫn 24bit Depth với 32bit Floating processing (PODxt trở lên). 32Bit kia là môi trường tính toán, nó tương tự như Windows 32bit vậy. Nếu máy tính k cho phép, ta vẫn có thể chọn 16bit để thu âm. Chẳng có gì là lo lắng quá vì Bit depth của CD là cũng chỉ 16, còn DVD là 24. <img class="inlineimg" title="3" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/3.gif" border="0" alt="" /> Có 1 số bác cứ mở mồm ra là nào là Digital k bao giờ thay thế được Analog hoặc Digital k bao giờ bằng được Analog thế lọ thế chai, thử hỏi các bác đang nghe CD hay đĩa than? =.= Rồi các bác phân biệt được sự khác biệt giữa Digital signal được mã hóa 16 bit ở Sample rate 44100 Hz (44100 sample trên 1 giây, mỗi sample ”nặng” 16 bit) với tín hiệu analog thật của cùng 1 nguồn audio? <img class="inlineimg" title="21" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/21.gif" border="0" alt="" /> Trong 1 tài liệu tôi đọc được khi lang thang trên web từ khá lâu, nói về 1 triển lãm công nghệ âm thanh, tiêu điểm là 1 thiết bị Digital có bộ A/D và D/A Converter mới nhất hiện nay. Tester là các sound engineer hàng đầu. Sử dụng cùng 1 nguồn âm thanh và kết quả gộp chung lại thành 1 câu đơn giản:”<strong>Âm thanh xuất ra từ bộ DAC này còn “analog” hơn cả tín hiệu analog thật!</strong>” <img class="inlineimg" title="16" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/16.gif" border="0" alt="" />. Hiện tại tôi có sưu tầm được trong tay 2 Blind test: 1 là Analog vs. Digital (1000 ng trả lời trong đó 1,2% đoán trúng – và đa số là may mắn); 1 là High Sample Rate War (hiện có khoảng 190 người trả lời Blind Test này và chưa ai trả lời đúng), nếu các bạn muốn thử sức tôi sẽ post lên đây.<strong> Chúng ta cần phải có những bằng chứng và hành động rõ rệt chứ k chỉ ngồi 1 góc zời mà phán chuyện Trái Đất. </strong>Vì phạm vi bài viết chỉ mang tính giới thiệu nên tớ k đi sâu về mảng này nữa.</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image020.jpg" border="0" alt="" /><br />
<strong>Figure 10 - Analog signal (xám) Vs. Digital signal (đỏ)</strong></p>
<p><strong>b)  ASIO Settings:</strong> Mục này quy định độ sâu của âm thanh sử dụng với Driver ASIO của POD. Bạn nên đặt tham số này trùng với Driver Format ở mục Bit Depth để tránh lãng phí sức mạnh xử lý của CPU mà âm thanh chả có j thay đổi cả (Driver thì 16 bit, vậy để ASIO 24 bít mà làm rì =.=). Còn Default Buffer Size thì quy định kích cỡ bộ nhớ đệm dùng để stream âm thanh của ASIO Driver. Bộ đệm càng lớn thì càng giảm tải cho CPU nhưng lại tăng độ trễ (Latency – Khoảng thời gian từ lúc triển khai lệnh, âm thanh được xử lý rồi tới Output. K có cái j gọi là Zero Latency hoặc Latency Free ở 1 hệ thống Digital!).</p>
<p>Mục USB Audio Streaming thì có ý nghĩa tương tự ASIO Buffer Size. Chúng ta có thể để mặc định cũng được, nhưng nếu thấy máy giật giật hoặc tín hiệu bị Drop thì phải tăng giá trị này lên tới khi hết thì thôi. Tuy nhiên chắc k cần hỏi các ae cũng đang thắc mắc: nhỡ Latency cao quá ảnh hưởng tới quá trình thu âm (lệch nhịp vì bị trễ âm thanh chẳng hạn) của tôi thì sao? Các thiết bị DAW và phần mềm DAW thế hệ mới hầu hết có kèm theo chức năng Latency Compensation (tạm dịch là: bù trừ độ trễ). Nó có khả năng tính toán tổng Latency sinh ra do các thiết bị, Plugin được sử dụng và thời gian trễ khi nhận tín hiệu audio đang được record và “xô” (từ lóng trong giới thu âm chỉ việc di chuyển 1 đoạn của 1 track nào đó cho đúng nhịp hoặc đúng ý đồ của mixer) tín hiệu audio đến vị trí như k hề tồn tại Latency.</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image022.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 11 - Signal Routing</strong></p>
<p><strong>Signal Rounting trong PODxt</strong></p>
<p>Cụm từ Signal Routing ở đây được hiểu theo nghĩa đường đi của tín hiệu qua các thiết bị. Ở trên hình 11, tín hiệu guitar được chia ra làm 2: 1 truyền thẳng tín hiệu bypass (clean/unprocessed) cho máy tính, 1 truyển cho hệ thống giả lập xử lý âm thanh của POD, và cuối cùng âm thanh từ máy tính  và âm thanh được xử lý của POD cùng chuyển qua output của POD.</p>
<p>Lần này chúng ta lại tiếp tục làm quen với 1 khái niệm nữa: Re-Amping. Chắc hẳn các anh em đã đều rất cay cú khi nghe lại 1 bản thu nào đó của mình và nghĩ:”DCM, cái bản mình đánh còn hay hơn cả Yến Vi béo mà âm thanh thì như lìn! Giá mà hồi đó k căn phơ ngu như thế! <img class="inlineimg" title="20" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/20.gif" border="0" alt="" />“. Nay với Line6 POD Family, không bao giờ chúng ta phải than vãn đầy tiếc nuối như thế nữa. Chỉ việc thu tín hiệu bypass, sau đó dùng POD để xử lý tín hiệu này rồi record lại sau khi đã thỏa mãn với tiếng mình căn. Mọi việc sẽ đơn giản hơn nếu có GearBox hoặc mới đây nhất là POD Farm (nói ở phần sau).</p>
<p><strong>Tiến hành thu âm</strong></p>
<p>Các kiến thức cơ bản để setup rồi thu âm cho POD đã ổn, giờ chúng ta bắt đầu tiến hành ngay thôi. Phần mềm được sử dụng trong bài là Cubase SX3 (Nudendo thì y hệt còn các phần mềm khác như Sonar, ProTools, Adobe Audition, Reaper… thì k khác nhiều). Các bước làm tuần tự như sau:</p>
<p>1.   Nối POD vào máy tính (tất nhiên rồi <img class="inlineimg" title="21" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/21.gif" border="0" alt="" />).</p>
<p>2.   Mở Cubase lên, vào menu Devices chọn Device Setup.</p>
<p>3.   Ở mục VST Audiobay, chỗ Master ASIO Driver, chọn Line6 PODxt à OK. Có 1 phương pháp khác đó là sử dụng driver của  ASIO4ALL (cách này của nghesi82) download tại <a href="http://www.asio4all.com/" target="_blank">http://www.asio4all.com/</a>. Sau khi download về và cài đặt ASIO4ALL đầy đủ, nối POD vào máy tính, mở ASIO4ALL Offline Settings, click Disable các đường out/in bất kì trừ Out/In của POD. Sử dụng phương pháp này thì độ trễ giảm đi đáng kể và tránh được tình trạng Audio drop out của X3 Series.</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image024.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p>4.   Trở lại cửa sổ Cubase SX3, Track nào muốn record từ POD thì chọn Record Enable (nút tròn màu đỏ ở dưới tên track), ấn nút Record màu đỏ trên thanh Transport Bar để tiến hành thu âm.</p>
<p><strong>1.4.    Tweaking Sounds</strong></p>
<p>Phần này sẽ k nói cụ thể ae phải căn phơ ra sao, nó k phải là 1 cuốn hướng dẫn sử dụng. Tôi chỉ dựa vào kinh nghiệm của mình có được sau 1 thời gian mày mò với POD và chia sẻ. Tôi sẽ không hướng dẫn các bạn nhái tone của artist nào vì đó là điều k thể khi nghe 1 mình. Tone của họ sau khi qua 1 loạt rack riếc loạn xạ sau đó đưa vào studio còn được các sound engineer gọt dũa, polish bét nhè mới được như thế. Vì thế giống 80% khi nghe 1 mình có nghĩa là: Bạn đã nhái thành công!</p>
<p>Để có được tiếng guitar hay thì phải bắt nguồn từ 1 nhạc cụ tốt! Electric Guitar cũng là 1 nhạc cụ acoustic. Vì thế nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm âm học như Acoustic Guitar. Điều đó có nghĩa là gì? Là âm thanh acoustic của nó cũng có thể phản ánh âm thanh sau khi distort! 1 cây guitar k hay thì k bao giờ cho ra được âm thanh distortion Exellent được mà chỉ dừng lại ở Great. Bob Dylan khi mua EG còn quạt chả đúng vài phát rồi lấy luôn chứ k cần cắm vào amp lùa loạn xạ như 1 số ng mình đã thấy. 1 cây EG hay phải đảm bảo được các yếu tố sau khi nghe mộc: độ ngân tốt, tiếng rõ ràng và đầy đặn. Việc thay pickup cũng có thể cải thiện được phần nào tiếng guitar nhưng đó k phải là 1 giải pháp tốt nhất. Nếu bạn có điều kiện, hãy mua 1 cây guitar thật tốt ngay từ ban đầu! Nó k chỉ có âm thanh tốt mà thiết kế của những cây guitar đó giúp bạn cảm thấy việc chơi đàn trở nên dễ dàng hơn.</p>
<p>Theo định nghĩa từ cuốn Getting Great Guitar Sound, 1 tone hay là 1 tone có thể kiểm soát được (nghe distortion tone từ đầu đến cuối bài Empty Room của Gary Moore)! “Tone hay” là 1 cụm từ rất nhạy cảm. Nhưng dù có nhạy cảm đến mấy nó vẫn có các “quy tắc” chung (trừ khi mình cố tình tạo ra cái tone phá vỡ các “quy tắc” đó). Vậy rốt cục các “quy tắc” thông thường đó là gì?</p>
<p>-      Dynamic: nghe thì có vẻ khó hiểu đấy, thực chất nó k có gì khác ngoài sự khác biệt về độ lớn của tín hiệu khi bạn pick mạnh và pick nhẹ. Dynamic này được quyết định bởi: chính bạn (tất nhiên), guitar amp, compressor. Độ Dynamic càng thấp thì tiếng guitar càng tàn bạo nhưng lại mất đi cái gọi là Expression (bạn có thể thể hiện được rất nhiều trạng thái tình cảm chỉ với việc điều khiển đôi tay pick mạnh hay nhẹ). Guitar Amp thì có 2 yếu tố: chính đặc điểm của kênh đang sử dụng trên amp đó và gain level. Càng high gain thì tiếng càng bị nén và nát (nhưng các bạn chú ý: “nát” kiểu tube amp nó khác với nát kiểu Zoom, ví dụ có ai bảo tiếng guitar trong Master of Puppets k “nát”?).</p>
<p>-      Độ ngân (Sustain): cái này phụ thuộc rất nhiều vào độ ngân tự nhiên của đàn, action và setting trên amp/fx. Amp càng high gain và FX xử lý Dynamic càng thấp thì tiếng càng ngân lâu kèm theo dynamic giảm dần.</p>
<p>-      Độ rõ ràng (Độ rõ ràng): guitar là 1 nhạc cụ có vai trò tải dải mid trong tổng thể âm thanh của 1 bản thu. Khi chơi metal thì người ta thường cắt bớt mid đi để tiếng guitar thêm nặng nhưng phải cân bằng với các nhạc cụ khác. Nếu quá tay thì sẽ không còn nghe thấy gì nữa. 1 số các band nhạc lại căn tiếng sao cho nó… k còn là tiếng guitar nữa, nghe rất tàn khốc như Meshugah chẳng hạn.</p>
<p>+ Dải mid và low-mid quyết định phần lớn độ dày của tiếng guitar nhưng nhiều quá thì lại làm tiếng bị đục.</p>
<p>+ Dải treble và presence giúp guitar nghe sáng và nổi hơn nhưng nhiều quá thì lại bị mỏng.</p>
<p>Ở các record thời xưa, tầm từ 80s đổ lại thì tiếng guitar có đặc điểm rất nhiều mid (Judas là 1 ví dụ tiêu biểu). Tất nhiên nó tùy từng dòng nhạc nữa bởi vì thời đó Metallica cũng đã bắt đầu đưa ra những album đầu tiên với scooped mid (cắt rất nhiều mid) guitar tone bởi Mesa Boogie Amplifier. Nhưng kết hợp với tiếng guitar bị cắt mid như thế thì guitar bass lại phải bù mid vào và giảm bass đi. Vì thế, tôi muốn các bạn hiểu rằng: để có được tiếng guitar hay mà k bị chôn vùi bởi các nhạc cụ khác thì chúng ta phải bỏ ra vài chầu café Capuccino mời thằng Bass, thằng Keyboard nữa <img class="inlineimg" title="46" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/46.gif" border="0" alt="" /> T_T</p>
<p>Để tạo ra 1 tiếng guitar hay, phù hợp với dòng nhạc/bài nhạc/thậm chí đoạn nhạc mình chơi thì đó là kết quả của cái gọi là “<strong>nghệ thuật cân bằng</strong>”. Cân bằng giữa Dynamic (Power/sức mạnh), Sustain (độ ngân), Clarity (độ rõ ràng), giữa các nhạc cụ khác và với cảm xúc mà bản nhạc/đoạn nhạc bạn đang căn tiếng cho.</p>
<p>Những hướng dẫn trên có thể áp dụng cho mọi trường hợp khi bạn căn tiếng bất kể dùng phơ cục, amp hay đơn giản chỉ với POD và 1 cái headphone!</p>
<p><strong>Những yếu tố then chốt quyết định chất lượng của 1 tiếng guitar ngon!</strong></p>
<p>-      Guitar Player: Hơi buồn 1 chút vì … đây là yếu tố hàng đầu! Tone is in Fingers!</p>
<p>-      Guitar: bản thân cây guitar chỉ đứng sau Guitar Player! It’s the Soul of Tone!</p>
<p>-      Amplifier: khỏi cần nói nó quan trọng như thế nào. Amp và A.I.R Modeling chính là điểm khác biệt lớn nhất giúp Line6 đè chết bất cứ 1 hãng sản xuất phơ bàn giả lập nào! (Mie, Line6 mà k bonus mình 1 con X3 thì đúng là trời k có mắt! =.=). Các bạn nên nhớ 1 điều, POD giả lập mic với những vị trí cố định nếu xét theo hình chiếu ngang theo hướng nhìn trực diện vào amp, chỉ khác nhau về độ xa gần trong cùng 1 Mik setting và âm thanh cho ra ở Studio Mode là âm thanh đã được Mik với vị trí đã mik chứ k phải như âm thanh các bạn nghe bt khi đánh với amp đó, do đó mọi sự so sánh đều là khập khiễng!</p>
<p>-      Cabinet (bao gồm cả thùng loa và speaker nói chung): Cabinet shapes your sound. Câu nói này đủ để khẳng định tầm quan trọng của Cabinet với tiếng guitar của bạn.</p>
<p>-      Microphone: Khi công đoạn căn chỉnh tiếng đã gần đến hồi kết thúc, nếu chúng ta thay đổi mic selection, thì gần như đồng nghĩa với việc phải căn lại tiếng từ đầu.</p>
<p><strong>Amplifier, Cabinet và Microphone trong POD Family</strong></p>
<p><em><strong>1.   Amplifier:</strong></em> Theo ý kiến cá nhân của tôi sau 1 thời gian tương đối (khoảng hơn 2 năm) miệt mài và đam mê với POD, 1 số amp sau đây cho âm thanh rất tốt kèm theo 1 số demo do chính tớ làm và có thể bắt đầu ngâm kíu từ đó (tớ chơi Metal là chính nên trong danh sách Best Amp Collection dưới dây có thể hơi thiên vị 1 chút :”&gt;):</p>
<p>-           Diamond Plate - Mesa Triple Recto: tiếng hạt to và smooth.</p>
<p>-           Treaplate Dual – Mesa Dual Recto: khó căn hơn Diamond Plate nhưng căn cẩn thận thì âm thanh cho ra khá ấn tượng.</p>
<p>Sample:</p>
<p><a href="https://dl.getdropbox.com/u/355650/DualRecto-01.mp3" target="_blank">https://dl.getdropbox.com/u/355650/DualRecto-01.mp3</a></p>
<p>-           Solo 100 - Soldano SLO 100 Superlead Overdrive: Âm thanh Overdrive của SLO100 quả thực rất thuyết phục. Nghe rất tự nhiên và mượt. Gần như không bị nén (tương tự model JMP1- Marshall JMP-1 của Iron Maiden). Theo 1 số ý kiến thì Model này trên X3 cho âm thanh ngon hơn XT, tớ chưa nghe nó trên X3 nên im mõm k phán xét =.= Ngoài ra Line6 còn giả lập 1 model khác của Soldano đó là SP88 với tên Modern Hi-Gain.</p>
<p>Sample: <a href="https://dl.getdropbox.com/u/355650/fast%20picking%20tone.mp3" target="_blank">https://dl.getdropbox.com/u/355650/f&#8230;ing%20tone.mp3</a></p>
<p><a href="https://dl.getdropbox.com/u/355650/Test%20IBZ%20S470-01.mp3" target="_blank">https://dl.getdropbox.com/u/355650/T&#8230;%20S470-01.mp3</a></p>
<p>-           Ms Criminal 2001 - Peavey 5150 MKII: hợp nhất cho rhythm guitar. Ai yêu thích InFlames thì có thể thử với Peavey 5150II (tất nhiên đàn đóm phải chơi C tunning) sẽ thấy rất nhiều điều kì diệu  Tuy nhiên trên YouTube có 1 hảo thủ tên là schef - big fan của In Flames - căn tiếng bằng Line6 Lunatic nghe cũng vãi linh hồn - gần như y hệt!!</p>
<p>Sample: <a href="https://dl.getdropbox.com/u/355650/inflames%2006-28.mp3" target="_blank">https://dl.getdropbox.com/u/355650/inflames%2006-28.mp3</a></p>
<p>-           Bomber X-TC - Bogner Ecstasy: âm thanh rất tối nhưng khá lý tưởng với các Metallica fan.</p>
<p>-           Deity’s Son - Diezel Herbert: còn j để nói đây =.= ! Model này cho âm thanh ít bị nén hơn Deity Lead (giả lập Diezel VH4), dùng để solo thì rất tuyệt. Giá&#8230; 4100$ nguyên cái head! Chán chưa!</p>
<p>-           Angel P-Ball - ENGL Powerball: tiếng rất mềm và mượt, bass chắc. Nhưng kết hợp nó với TubeScreamer thì lại là 1 sai lầm lớn!</p>
<p>-           Plexi Variax: tiếng chắc, ổn nhưng hơi mỏng. Ai thích Van Halen có thể bắt đầu căn chỉnh từ amp này.</p>
<p>-           JCM800 - Marshall JCM800: con này thì đã quá nổi tiếng cùng Slash, RR, Zalk Wylde&#8230; Âm thanh giả lập của POD mang lại cái thô thô rất thực của amp thật (nghe qua các bài hát của Ozzy như Crazy Train, MrCrowley&#8230;).</p>
<p>Sample: <a href="https://dl.getdropbox.com/u/355650/JCM800%20%26%20DualRecto.mp3" target="_blank">https://dl.getdropbox.com/u/355650/J&#8230;0DualRecto.mp3</a> (lead guitar là JCM800 – bản thu này từ quá lâu rồi nên mong mọi ng tha thứ cho chất lượng âm thanh quá tệ <img class="inlineimg" title="4" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/4.gif" border="0" alt="" />)</p>
<p>-         L6 Big Bottom – Lờ xích mông to: dân chơi metal k thể k sờ mó tới con này trong các Model của POD được. Tiếng cực dày, căng và tube!</p>
<p>Sample: <a href="https://dl.getdropbox.com/u/355650/Truong%20Chinh%20city%20-%20V4.wav" target="_blank">https://dl.getdropbox.com/u/355650/T&#8230;y%20-%20V4.wav</a></p>
<p>-           Blackface Lux - Blackface Fender® Twin Reverb®: căn tiếng clean bằng Amp này thì đừng hỏi.</p>
<p>-           Match D-30 – Matchless Chieftain DC-30: Clean của con này có thể nói là số 1 trong số các amp Line6 giả lập.</p>
<p>-           Jazz Clean - Roland JC-120: Ai thích clean ngọt ngào thì JC-120 là lựa chọn phù hợp.</p>
<p>-           1 số amp do chính Line6 làm cũng có âm thanh rất tốt: L6 Insane, L6 Spinal Puppets,</p>
<p>-           Cali Crunch - Mesa/Boogie Mark IIc+: đặt TS7 trước chú này rồi căn Overture 1928 của Dream Theater, tone ơi chạy đi đâu! <img class="inlineimg" title="21" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/21.gif" border="0" alt="" /></p>
<p>-           L6 Variax Acoustic: con dùng với cả đàn điện và đàn thùng đều ổn.</p>
<p>-           1 số model low/mid gain cho âm thanh thậm chí còn thuyết phục hơn: Marshall Superlead Variac, Double Show – Twin Reverb Deluxe, Hiwat DR-103, Vox AC30.</p>
<p>Sample cho 1 số amp clean: <a href="https://dl.getdropbox.com/u/355650/CleanGT-01.mp3" target="_blank">https://dl.getdropbox.com/u/355650/CleanGT-01.mp3</a> (Orange AC30, BlackFace, Matchless Chieftain).</p>
<p><strong><em>2. Cabinet:</em></strong> một số cabinet tớ hay dùng</p>
<p>-      4&#215;12 Treadplate: Mesa</p>
<p>-      4&#215;12 V30: Marshall Cab, dùng speaker V30 của Celestion - solo thì dùng cab này tiếng rất chắc.</p>
<p>-      4&#215;12 Green 25: Marshall Cab, dùng speaker Greenback 25W của Celestion - Mid rất dày.</p>
<p>-      4&#215;12 Brit T75: Marshall Cab sử dụng Speaker T75 của Celestion cho âm hanh nghe rất modern.</p>
<p>-      4&#215;12 Line6: Cab của bổn hãng, dùng Celestion V30.</p>
<p>-      2&#215;12 Match: Matchless Chieftain Cab.</p>
<p>-      2&#215;12 Blackface: 1965 Fender® Blackface.</p>
<p><strong><em>3. Microphone: </em></strong>dưới đây là 4 mic của Line6 dành cho Guitar</p>
<p>-      Shure SM57 on Axis: Hưởng thẳng vào tâm của speaker. Tiếng nhiều Mid, thô, sáng. Đây chính là con mic huyền thoại của dân guitar nói riêng và phòng thu nói chung. Rẻ, bền, đẹp với 99$!</p>
<p>-      Shure SM57 off Axis: Hướng vào khoảng giữa các speaker, ví dụ 1 cabinet 4&#215;12 có 4 speaker, thì vị trí này nằm ở giữa cả 4 speaker đó. Tiếng mềm hơn on axis, ít mid hơn, tối hơn.</p>
<p>-      Sennheiser MD421: ít Mid nhất trong số các mic của Line6, bắt treble và bass rất tốt. Đây là mic có âm thanh unnatural (thiếu tự nhiên) nhất nhưng với Metal, thì đó lại là 1 ưu điểm trời cho của MD421. Tiếng rất căng, uy lực. Nhưng khi căn chỉnh phải rất cẩn thận kẻo vị um.</p>
<p>-      Neuman U67: tiếng mượt nhất, con mic này k chơi với rhythm guitar. Với các lead guitarist thì nó lại là 1 báu vật khó có thể tách rời. Giá rất thảm khốc: 2299$ (musicianfriends.com).</p>
<p>Liệu Setup mic đã xong chưa? Èo, chưa đâu =.= Vẫn còn 1 yếu tố nữa là khoảng cách giữa mic và cabinet mà Line6 gọi là tham số Room. giá trị Room càng lớn thì khoảng cách càng xa tương ứng với âm thanh càng nhòe (hoặc mượt hơn) do mic bắt cả âm thanh dội lại trong phòng. Thử thay đổi giá trị Room từ 0-10%, cảm giác về frequency response sẽ khác khá nhiều (đặc biệt là bass range). Theo ý kiến tớ, trừ khi là chủ định, k nên để mic xa cabinet quá giá trị 30%.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Tips and Tricks</span></strong></p>
<p>-      Khi bắt đầu căn tiếng nên tắt hết mọi module, FX đi. Chỉ để amp và A.I.R không thôi. Sau đó căn đến khi ưng ý thì bắt đầu bật các module, compressor, EQ tùy ý. Quan trọng nhất là cái tone từ chính amp đi ra, còn EQ chỉ là điều chỉnh 1 chút thôi chứ k phải là cái đũa thần! Mọi thứ khác chỉ là cái trang trí thêm cho cái tone gốc của amp mà thôi!</p>
<p>- Khi căn tiếng clean hay acoustic, anh em hãy thử bỏ qua Cabinet (chọn No Cabinet) rồi nghe thử!</p>
<p>- Sử dụng Stompbox TubeScreamer để tránh bị um tiếng hay nói cách khác làm cho tiếng đàn khi palm mute nghe chặt hơn. Nhưng chú ý là k phải amp nào cũng kết hợp tốt với TS.</p>
<p>- Thêm Chorus vào tiếng Distortion hay OverDrive để có cảm giác căng và dày hơn. Lạm dụng quá sẽ nhận lấy hậu quả =.=</p>
<p>- Đôi khi thử đảo vị trí của Modules lên phía trước amp. Thậm chí delay và reverb có thể lôi lên trước cả Amp (k đùa tí nào)! Cái này đặc biệt thú vị cho các anh em nào thích hiệu ứng.</p>
<p>- Đặt Delay Time theo Tempo, khi solo, hầu như tiếng dội của Delay sẽ chìm vào quên lãng mà vẫn đảm bảo được không gian cho tiếng.</p>
<p>- Đôi khi hãy bỏ delay đi, sử dụng riêng reverb cho lead guitar.</p>
<p>- Chơi NuMetal thì nên biết đến Rotary Drums Effect.</p>
<p><strong>1.5.    Setting For Live Sounds</strong></p>
<p>Có được Live Sound ngon là điều vô  cùng khó vì hỡi ôi, cái bọn Mixer ở các show anh em mình hay chơi nó có đôi tai nghe nhạc tốt quá cơ! T_T Nhưng ở trong phạm vi bài viết tớ chỉ đề cập tới vấn đề từ phía cá nhân guitarist chứ k liên quan tới mấy thằng của nợ kia.</p>
<p>Khi diễn Live, điều đầu tiên anh em thắc mắc sau khi đánh thử đàn đó là: tại sao âm thanh này nghe dek giống cái mình căn ở nhà thế nhỉ? <img class="inlineimg" title="22" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/22.gif" border="0" alt="" /> Sao nó mỏng dính hoặc chua loét thế kia???!! T_T Cái này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà 1 số cái sau là đáng nói nhất:</p>
<p>-      Thiết bị căn tiếng ở nhà.</p>
<p>-      Volume Level lúc căn.</p>
<p>-      OUTPUT MODE của POD.</p>
<p>Giải quyết từng vấn đề 1 thì sẽ thấy vấn đề đơn giản hơn rất nhiều.</p>
<p>-      Thiết bị căn tiếng ở nhà: 1 số anh em dùng Headphone, dàn Karaoke (tại hạ T_T), ai có điều kiện hơn thì chơi Guitar Amp. Âm thanh ở nhà và âm thanh sân khấu là 2 phương trời bố của khác biệt. Ở nhà, khi ta căn tiếng rhythm nghe hơi phừng phừng 1 tí, tưởng thế là hay, lên sk thì nó sẽ thành: ùng ùng ùng, uỳnh uỳnh và là nguyên nhân hàng đầu khiến cả band cứ mặc sức gào thét quay cuồng còn khán giả dek hiểu chúng nó đang làm cái j <img class="inlineimg" title="22" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/22.gif" border="0" alt="" /> Ở nhà thì hầu hết chúng ta sử dụng thiết bị k phải pro, vì thế, tone đàn sẽ k được trung thực lắm. Ví dụ như với Karaoke Amp, sẽ thật sai lầm nếu căn tiếng khi mà LineOut của POD nối vào MicIn của Amp. Tiếng đàn chúng ta sẽ được Pre-Amp của những cái amp Karaoke đó nhuộm màu, làm trong và thiếu đi tính trung thực. Giải pháp cho trường hợp này đó là nối LineOut của Pod vào Music-In trên amp để bypass Preamp của nó, âm thanh ra khác hẳn luôn <img class="inlineimg" title="22" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/22.gif" border="0" alt="" /> nhưng trung thực hơn rất nhiều! Còn đối với headphone, bản thân các headphone thông thường k phải là Flat Respone mà đã đều được nhà sản xuất “nhuộm” cho 1 màu sắc nào đó (trầm ấm, tươi sáng trong trẻo, dày…) thì làm sao mà ra tiếng ngon được! Phải sử dụng Headphone Studio với Flat Response ở Volume phù hợp thì may ra cứu vãn được tình thế! Đối với guitar amp thì mời anh em đọc thêm ở gạch đầu dòng thứ 3.</p>
<p>-      Volume Level lúc căn đàn: tai người k đáp ứng như nhau với tất cả các tần số ở 1 volume level nhất định. Chúng ta chỉ nhạy với dải tần số 1-4khz và nhất là 3-4khz (hơ hơ hơ, thế này guitar sinh ra là để đi vào lòng người rồi còn rì <img class="inlineimg" title="21" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/21.gif" border="0" alt="" />).  Điều đó có nghĩa là chúng ta luôn nghe thấy âm thanh ở dải tần này cao hơn so với các dải tần khác.</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image044.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p>Trên đây là biểu đồ Fletcher-Munson mô tả mức đáp ứng của tai người ở các level khác nhau trên các dải tần khác nhau. Nó chỉ ra rằng ở độ ồn khoảng 85db thì tai người đạt được trạng thái cân bằng nhất với hầu hết các tần số. Đây chính là volume level hợp lý để căn tiếng và mix nhạc. Nhưng làm sao để biết mình đang nghe ở 85db? +_+ cái này phải nhờ đến các thiết bị Volume Meter để đo đạc, giá thấp nhất tầm 60$ (tại US) thì phải, mẹ ơi! T_T Cái này thì tớ k đề ra giải pháp gì ngoài… kinh tế! <img class="inlineimg" title="46" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/46.gif" border="0" alt="" /></p>
<p>-  OUTPUT MODE của POD: POD có 1 số chế độ output sau: Studio Direct (A.I.R Enabled dùng để thu âm trực tiếp hoặc đánh thẳng vào mixer); 2&#215;12Front, 2&#215;12 PWRAMP, 4&#215;12Front, 4&#215;12 PWRAMP (dùng để cắm vào Guitar Amp hoặc PowerAmp và Speaker trên sân khẩu hoặc tại nhà kèm theo tính năng tone correction để điều chỉnh sao cho giống Direct tone nhất, ở mode này A.I.R bị disable phần mic và room còn cabinet thì sẽ được đổi phương thức shaping sound sao cho âm thanh đi qua loại speaker mình chọn là ngon nhất), BOSE PS1 (sử dụng mode này khi cắm trực tiếp guitar vào BOSE PS1 Cylindrical Radiator LoudSpeaker System).</p>
<p>Chú ý 2 tham số Front và PowerAmp (sử dụng Options này với switch Amp/Line ở rear panel của POD được gạt sang Amp). Sử dụng Poweramp khi cắm trực tiếp lineout của POD vào 1 Poweramp (ví dụ Mesa 2:90 hoặc Marshall VHT poweramp) hoặc cắm vào ngõ Effect Return của amp đó. Sử dụng FRONT Option khi cắm trực tiếp vào 1 combo amp hoặc head thông thường (trong trường hợp này là sử dụng cả PreAmp của nó). Với Front option thì chức năng Tone Correction được enable. Theo kinh nghiệm của các kĩ sư Line6 thì các tần số nên cắt đi là bass và treble.</p>
<p>Nếu muốn sử dụng Distortion của amp thì phải tắt nút Amp trên POD Live hoặc chọn No Amp với POD nói chung. Khi đó POD sẽ có nhiệm vụ làm gain Booster và Effect Processor.</p>
<p>1 điều rất quan trọng: khi live show cho sẵn amp trên sk mà cái amp đó k hay hoặc phò quá thì tốt nhất là ĐỪNG BAO GIỜ cắm POD vào đó vì 10000000% cái amp đó còn thua cả A.I.R modeling của POD. May ra mấy con hay thấy trong show do Fantasy làm âm thanh (JCM800, JCM2000) là còn xứng đáng để cắm POD vào, nếu k thì cứ “Anh mixer ơi, cho em xin 1 đường từ phơ thẳng vào Mixer” cho nó lành!!! Nếu cắm POD trực tiếp vào Input của các Amp trên sk hoặc sử dụng distortion/overdrive channels của nó, thì phải gạt Amp/Line switch sang Amp, chọn output mode là Front, set volume out của POD nhỏ nhất có thể để nó k drive input cái amp kia. Muốn có volume thì vặn Master Volume, còn input volume của amp thì để nhỏ nhất có thể.</p>
<p>Sử dụng Stompbox phía trước POD: 1 lời khuyên chân thành là nên vặn nhỏ Output Level của các stompbox đó và gạt nút PAD trên POD để có âm thanh ngon nhất!</p>
<p><strong>2.   Computer-Based Products<br />
</strong></p>
<p><strong>2.1.    Gearbox Plug-ins/POD Farm/AmpFarm</strong></p>
<p>Về cơ bản, âm thanh của các Plugins này “gần như” không khác gì so với POD và hiện đang là các The HOTTEST Plugins của những sound engineer hàng đầu thế giới! Chúng ta sử dụng những Plugin này như các Effect ở đường Insert với các DI Guitar Track (thu từ các thiết bị DI khác hoặc DI Mode của POD). Âm thanh có được không khác gì khi thu âm cùng với tone đó bằng POD. Giao diện thì cực kì Sexy, k thể đỡ nổi, anh em thử lướt qua các amp do chính Line6 làm thì sẽ thấy các Engineer của Line6 thực sự là những nghệ sĩ đầy sáng tạo và có gu thẩm mỹ rất vãi lìn!</p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image046.png" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 12 -  ****ing Sexy!!!!!!!!!!</strong></p>
<p><strong>2.2.    TonePort GX/UX1/UX2/UX8 và POD STUDIO GX/UX1/UX2.</strong></p>
<p>Đây là các thiết bị chạy kèm theo máy tính và sử dụng GearBox Plugins/PODFarm Plugins/Gearbox để xử lý âm thanh. Nếu bạn k hay đi diễn hoặc làm phòng thu, thì PODSTUDIO là giải pháp perfect! Tương tự như POD Family nhưng k có máy tính thì nó chỉ là cục sắt vô dụng. <img class="inlineimg" title="4" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/4.gif" border="0" alt="" /><br />
<img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image049.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 13 - PODSTUDIO - Giải pháp lý tưởng cho Home/Pro STUDIO</strong></p>
<p><strong>3.   Appendix</strong></p>
<p><strong>3.1.    Amp Modeling</strong></p>
<p><strong>Guitar Amplifier Models based on*:</strong></p>
<p>1. &#8220;Wide panel&#8221; Fender® Deluxe Reverb®</p>
<p>2. Fender® Bassman®</p>
<p>3. Fender® Deluxe Reverb®</p>
<p>4. Vox® AC-30</p>
<p>5. Marshall® Super Lead</p>
<p>6. Marshall® Super Lead (&#8221;jumped&#8221; channels)</p>
<p>7. Roland® JC-120</p>
<p>8. Marshall® JCM-800</p>
<p>9. Soldano SLO-100</p>
<p>10. Mesa/Boogie® Dual Rectifier®</p>
<p>11. Marshall® 1974X (18W Reissue)</p>
<p>12. Orange AD30TC</p>
<p>13. L6 Treadplate</p>
<p>14. L6 Chemical X</p>
<p>15. L6 Insane</p>
<p>16. L6 Piezacoustic 2</p>
<p>17. L6 Spinal Puppet</p>
<p>18. L6 Tube Instrument Preamp</p>
<p>19. Bogner Uberschall</p>
<p>20. Cornford mk50h</p>
<p>21. Diezel VH4-Lead</p>
<p>22. Diezel Herbert</p>
<p>23. ENGL® Powerball</p>
<p>24. Marshall® Silver Jubilee</p>
<p>25. Marshall® JCM-900-Clean</p>
<p>26. Marshall® JCM-900-Dist</p>
<p>27. Marshall® JCM-2000</p>
<p>28. Mesa/Boogie® Triple Rectifier®</p>
<p>29. Peavey® 5150 II®</p>
<p>30. Bogner Ecstasy</p>
<p>31. Diezel VH4-Crunch</p>
<p>32. Fender® Vibroverb</p>
<p>33. Fender® Dual Showman® Head</p>
<p>34. Marshall® JMP-1</p>
<p>35. Vox® AC-15</p>
<p>36. Mesa/Boogie® Mark IIc+</p>
<p>37. Fender® Bassman® Head</p>
<p>38. Gretsch® 6156</p>
<p>39. Fender® Mini Twin Reverb®</p>
<p>40. Gibson® GA-18 Explorer®</p>
<p>41. Marshall® Super Bass</p>
<p>42. Marshall® Major</p>
<p>43. Silvertone® Twin Twelve</p>
<p>44. Supro® Thunderbolt</p>
<p>45. Vox® Fawn Non-Top Boost AC30</p>
<p>46. Dumble® Clean</p>
<p>47. Soldano SP88</p>
<p>48. Marshall® JCM 2000</p>
<p>49. Marshall® Super Lead Variac</p>
<p>50. Matchless DC-30</p>
<p>51. Blackface Fender® Twin Reverb®</p>
<p>52. Marshall® &#8220;Block Logo&#8221; JTM-45 head</p>
<p>53. Matchless Chieftain</p>
<p>54. Supro® S6616</p>
<p>55. Fender® Tweed Champ®</p>
<p>56. Hiwatt® DR-103</p>
<p>57. L6 Big Bottom</p>
<p>58. L6 Fuzz</p>
<p>59. L6 Octone</p>
<p>60. L6 Smash</p>
<p>61. L6 Sparkle Clean</p>
<p>62. L6 Throttle</p>
<p>63. L6 Clean</p>
<p>64. L6 Mood</p>
<p>65. L6 Agro</p>
<p>66. L6 Class A</p>
<p>67. L6 Variax Acoustic</p>
<p>68. L6 JTS 45</p>
<p>69. L6 Lunatic</p>
<p>70. L6 Bayou</p>
<p>71. L6 Crunch</p>
<p>72. L6 Purge</p>
<p>73. L6 Sparkle</p>
<p>74. L6 Super Clean</p>
<p>75. L6 SuperSpark</p>
<p>76. L6 Twang</p>
<p>77. L6 Chunk Chunk</p>
<p>78. Budda® Twinmaster 2&#215;12 Combo</p>
<p><strong>Bass Amplifier Models based on*:</strong></p>
<p>1. Ampeg® SVT</p>
<p>2. Ampeg® B-15A</p>
<p>3. Eden Traveler WT-300</p>
<p>4. Fender® Bassman® head</p>
<p>5. Gallien Kruger 800RB</p>
<p>6. Hiwatt® DR-103</p>
<p>7. Hiwatt® 200DR</p>
<p>8. Fender® Dual Showman®</p>
<p>9. Fender® Bassman® Combo</p>
<p>10. Mesa/Boogie® Bass 400+</p>
<p>11. Polytone Minibrute</p>
<p>12. Sunn® Coliseum</p>
<p>13. SWR® SM-500</p>
<p>14. Versatone Pan-O-Flex</p>
<p>15. Vox® AC-100</p>
<p>16. Marshall® Major</p>
<p>17. Marshall® Plexi Super Bass</p>
<p>18. Acoustic 360</p>
<p>19. Aguilar® DB750</p>
<p>20. Alembic F-2B</p>
<p>21. L6 Tube Bass Preamp</p>
<p>22. L6 Classic Jazz</p>
<p>23. L6 Brit Invader</p>
<p>24. L6 Super Thor</p>
<p>25. L6 Frankenstein</p>
<p>26. L6 Ebony Lux</p>
<p>27. L6 Doppelganger</p>
<p>28. L6 Sub Dub</p>
<p><strong>3.2.    Cabinet Modeling</strong></p>
<p><strong>Guitar Cabinet Models based on*:</strong></p>
<p>6&#215;9 Supro® S6616</p>
<p>1&#215;8 1961 Fender® Tweed Champ®</p>
<p>1&#215;10 Gibson®</p>
<p>1&#215;10 Gretsch® 6156</p>
<p>1&#215;12 Line 6®</p>
<p>1&#215;12 1953 Fender® Tweed Deluxe Reverb®</p>
<p>1&#215;12 1964 Fender® Blackface Deluxe Reverb®</p>
<p>1&#215;12 1960 Vox® AC-15</p>
<p>1&#215;15 1962 Supro® Thunderbolt</p>
<p>2&#215;2 Fender® Mini Twin Reverb®</p>
<p>2&#215;12 Line 6® Fender®</p>
<p>2&#215;12 1965 Fender® Blackface</p>
<p>2&#215;12 1995 Matchless Chieftain</p>
<p>2&#215;12 Roland® JC-120</p>
<p>2&#215;12 1967 Vox®</p>
<p>2X12 1967 Silvertone® Twin Twelve</p>
<p>4&#215;10 Line 6®</p>
<p>4&#215;10 1959 Fender® Bassman®</p>
<p>4&#215;12 Line 6® Marshall®</p>
<p>4&#215;12 1967 Marshall® Basketweave with Greenbacks</p>
<p>4&#215;12 1968 Marshall® Basketweave with Greenbacks</p>
<p>4&#215;12 1978 Marshall® with stock 70s</p>
<p>4&#215;12 1996 Marshall® with Vintage 30s</p>
<p>4&#215;12 Mesa/Boogie®</p>
<p><strong>Bass Cabinet Models based on*:</strong></p>
<p>1&#215;12 Euphonics® CXL-112L</p>
<p>1&#215;12 Versatone® Pan-O-Flex</p>
<p>1&#215;15 Ampeg® B-15</p>
<p>1&#215;15 SWR® Big Ben</p>
<p>1&#215;15 Ploytone® Minibrute</p>
<p>1&#215;18 Acoustic 360</p>
<p>1&#215;18 Mesa/Boogie®</p>
<p>1&#215;18 + 12 Sunn® Coliseum</p>
<p>2&#215;10 Ashdown® ABM 210T</p>
<p>2&#215;15 Fender® Dual Showman®</p>
<p>2&#215;15 Mesa/Boogie®</p>
<p>2&#215;15 Vox® AC-100</p>
<p>4&#215;10 Line 6 Original</p>
<p>4 x 10 Fender® Bassman® Combo w/ new speakers</p>
<p>4 x 10 Fender® Bassman® Combo</p>
<p>4 x 10 Hartke®</p>
<p>4 x 10 David Eden</p>
<p>4 x 12 Hiwatt® Bass Cab</p>
<p>4 x 12 1967 Marshall® Basketweave w/ Greenbacks</p>
<p>4 x 12 1968 Marshall® Basketweave w/ Greenbacks</p>
<p>4 x 15 Marshall® Major</p>
<p>8 x 10 Ampeg® SVT Cab</p>
<p><strong>3.3.    Microphone Modeling</strong></p>
<p><strong>3.3.1.      Shure SM 57</strong></p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image052.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 14 - Shure SM57 - Legendary Mic</strong></p>
<p>Shure SM57 Instrument/Vocal Mic Features:</p>
<p>Natural sounding</p>
<p>Durable bulletproof design</p>
<p>Used widely in studios as well as on stage</p>
<p>Frequency response: 40Hz-15kHz</p>
<p>Tight cardioid polar pattern</p>
<p><strong>3.3.2.      Sennheiser MD421</strong></p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image058.jpg" border="0" alt="" /><br />
<strong>Figure 15 - MD421 – Power of Metal Guitarists!</strong></p>
<p>Sennheiser MD421 MKII U4 Microphone Features:</p>
<p>5-position bass control</p>
<p>Very effective feedback rejection</p>
<p>Highly directional cardioid pickup pattern</p>
<p>Rugged construction</p>
<p><strong>3.3.3.      Neumann U67</strong></p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image060.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>Figure 16 - U67 - Sweetening your licks!</strong></p>
<p>Neumann U87 Ai Shockmount Set Z Microphone with Box Features:</p>
<p>3 selectable directional patterns: omnidirectional, cardioid, and figure-8</p>
<p>10dB attenuation switch</p>
<p>127dB SPL handling</p>
<p>20Hz to 20kHz response</p>
<p>Impedance rated at 200 ohms. I</p>
<p>Includes a windscreen, cable, EA87 elastic suspension, and wooden jeweler&#8217;s box.</p>
<p><strong>3.4.    Signal Routing</strong></p>
<p><img src="http://i7.photobucket.com/albums/y298/hameo87/image061.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><strong>3.5.              Upgrading Modelpacks Trick:</strong></p>
<p>Mẹo nhỏ để mua Upgrade Packs của Line6 với giá bằng 1/2 giá niêm yết (k hề bất hợp pháp)</p>
<p>Mẹo này cũng khá phổ biến trong giới L6 User nhưng cứ post lên đây cho anh em ai chưa biết thì đọc.<br />
Khi mua bất cứ upgrade pack nào, nó cũng hỏi mình xem thiết bị nhận pack là j, khi đó đừng vội chọn POD ngay mà thay vào đó, chọn GuitarPort. Line6 bán Pack cho GuitarPort với giá = 1/2 cho POD  Sau khi hoàn tất thủ tục mua bán, nó cho 1 cái key để activate pack đó vào thiết bị của mình. Nhưng cái key này k mang theo thông tin về thiết bị đích. Điều đó có nghĩa là ta có thể dùng PODxt để nạp cái key đó và activate upgrade pack mới mua với giá dành cho GuitarPOrt!</p>
<p>Oh yeah!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/line6s-hardcore-fans-handbook/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>AEguitar Offline Show!</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/aeguitar-offline-show/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/aeguitar-offline-show/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 24 Nov 2008 18:08:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hellocrowley</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Headline]]></category>

		<category><![CDATA[Tin tức]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=174</guid>
		<description><![CDATA[<b>Giới thiệu:</b> Diễn đàn AEguitar là nơi tụ họp nhiều cấy guitar trẻ xuất sắc trong giới chơi nhạc Việt Nam. Nhằm tạo điều kiện cho các members giao lưu âm nhạc, thưởng thức các ngón nghề của chính AE trong diễn đàn, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu: AEguitar.org offline show lần 1! Đây là cơ hội để các bạn trẻ thể hiện những ngón guitar đã được trau dồi bấy lâu. Hãy mạnh dạn đăng kí biểu diễn!

<b>Thời gian:</b> Show diễn ra vào chiều tối thứ bảy ngày 13/12/2008. Hạn đăng kí biểu diễn: 30/11/2008.

<b>Địa điểm:</b> Ballad Saloon (insert link to map here)]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/the_rock_show.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-176" title="the_rock_show" src="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/the_rock_show-300x228.jpg" alt="" width="300" height="228" /></a><strong>Giới thiệu:</strong> Diễn đàn AEguitar là nơi tụ họp nhiều cấy guitar trẻ xuất sắc trong giới chơi nhạc Việt Nam. Nhằm tạo điều kiện cho các members giao lưu âm nhạc, thưởng thức các ngón nghề của chính AE trong diễn đàn, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu: AEguitar.org offline show lần 1!</p>
<p>Đây là cơ hội để các bạn trẻ thể hiện những ngón guitar đã được trau dồi bấy lâu. Hãy mạnh dạn đăng kí biểu diễn!</p>
<p><strong>Thời gian:</strong></p>
<ul>
<li>Show diễn ra vào chiều tối thứ bảy ngày 13/12/2008.</li>
<li>Hạn đăng kí biểu diễn: 30/11/2008.</li>
</ul>
<p><strong>Địa điểm:</strong> Ballad Saloon <em>(insert link to map here)</em></p>
<p><strong>Nội dung:</strong> Các guitarist nếu ko có band thì sẽ đánh guitar trên nền backing track. Nếu ko có backing track xịn cho bài mình muốn, hãy liên lạc với chúng tôi trong forum, BQT sẽ tìm/làm backing track cho bạn. Ngoài ra sẽ có thêm phần jamming cho các guitarist phiêu cùng nhau.</p>
<p><strong>Danh sách</strong> mới update các guitarist đăng ký tham gia:<br />
1. hellocrowly<br />
2. ttkh_40<br />
3. madriff<br />
4. satanxgod<br />
5. Khánh T<br />
6. france<br />
7. fadetoblack: Love thing-JoeSatriani và Overture1928-DreamTheater<br />
8. Links: Canon Rock<br />
9. chengvn: Hòn đá cô đơn <img class="inlineimg" title="22" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/22.gif" border="0" alt="" /><br />
10. Quạ đen: Icky Thump và Killing loneliness<br />
11. Godshand<br />
12. Aeguitar band</p>
<p><strong>Thảo luận trong forum:</strong> <a href="http://www.aeguitar.org/forums/showthread.php?t=3421">http://www.aeguitar.org/forums/showthread.php?t=3421</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/aeguitar-offline-show/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Vigier - Những cây guitar biết hát</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/vigier-nh%e1%bb%afng-cay-guitar-bi%e1%ba%bft-hat/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/vigier-nh%e1%bb%afng-cay-guitar-bi%e1%ba%bft-hat/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 24 Nov 2008 05:09:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Guitar Gears]]></category>

		<category><![CDATA[French Guitars]]></category>

		<category><![CDATA[Gear]]></category>

		<category><![CDATA[Vigier]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=169</guid>
		<description><![CDATA[&#8211; Symphony X &#8211;
Đây là 1 loại đàn có xuất xứ từ nước Pháp, kiểu dáng vô cùng tinh tế. Tớ sẽ giới thiệu qua về hãng đàn này để mọi người biết thêm. Cảm ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><em><strong>&#8211; Symphony X &#8211;</strong></em></p>
<p>Đây là 1 loại đàn có xuất xứ từ nước Pháp, kiểu dáng vô cùng tinh tế. Tớ sẽ giới thiệu qua về hãng đàn này để mọi người biết thêm. Cảm nhận của tớ khi dùng 1 con <span class="highlight">Vigier</span> là tiếng sạch, sang và bay! Chính xác là như vậy! Tiếng clean đẹp mĩ mãn!</p>
<p><a href="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/guitar_vigier_excalibur_ultra_blues_.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-172" title="guitar_vigier_excalibur_ultra_blues_" src="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/guitar_vigier_excalibur_ultra_blues_-300x170.jpg" alt="" width="300" height="170" /></a></p>
<p>Giấc mơ của tất cả những nghệ nhân guitar là có 1 cơ hội để làm ra những cây guitar có thể diễn đạt được cảm xúc, niềm đam mê của họ trong khi vẫn quan tâm tới việc sản xuất đại trà. <strong><span style="color: red;">Với những nghệ nhân của <span class="highlight">vigier</span>, giấc mơ đó đã trở thành hiện thức.</span></strong> Hàng ngàn giờ đã đựoc hiến dâng để cân nhắc lại đúng như mỗi diện mạo của cây guitar để làm cho việc chơi đàn với bạn như là 1 điều thiết thực của cuộc sống, âm thanh của bạn trở nên khác thường và gửi đến bạn 1 định nghĩa triệt để nhất của cái đã làm cho <span class="highlight">Vigier</span> khác với mọi hãng đàn còn lại!</p>
<p><strong><span class="highlight">Vigier</span> k phải là 1 chiếc guitar công nghiệp</strong>. Nó được làm bởi những phương thức nghệ thuật của các nghệ nhân. Đây là lý do tại sao chúng tôi k sản xuất hàng ngàn cây guitar 1 tháng. m<strong><span style="color: red;">ỗi chiếc <span class="highlight">vigier</span> là 1 sự độc đáo và bạn sẽ k tìm thấy nó ở trong nhiều đôi tay</span></strong>. Đối lập với những nhà sản xuất guitar công nghiệp đã bỏ hầu hết thời gian của họ cho maket tinh và kiếm tìm sự chứng thực của ng chơi, chúng tôi tiêu tốn thời gian cho phát triển các hệ thống mới. Trong khi nền công nghiệp làm cho bạn mơ thấy những chiếc guitar trên trung bình, <span class="highlight">Vigier</span> làm ra sự thật, hiệu quả và dễ dàng để chơi, những chiếc guitar dành cho ng chơi với chất lượng cao! Đọc catalog, thử những chiếc guitar của chúng tôi, và bạn sẽ hiểu!</p>
<p><strong><span style="font-size: large;"><span style="text-decoration: underline;">Cần đàn:</span></span> </strong></p>
<p><strong><span style="color: red;">Đây là thành phần quan trọng nhất của âm thanh guitar</span></strong> và sự thuận tiện khi chơi, Nó luôn luôn nhận được những sự chú ý nhất định khi chúng toi phát triển những giải pháp mới để nâng cao khả năng thể hiện của nó. Vì cần đàn k sản xuất đại trà, mỗi chiếc có thể được kiểm duyệt kĩ bởi những thợ làm đàn của chúng tôi. Với những bàn tay của họ và đôi mắt của họ, họ sẽ làm cho chúng chắc chắn k bị bỏ sót 1 chi tiết nào! Và với đôi bàn tay của bạn, bạn sẽ cảm nhận được nó</p>
<p><span style="color: red;"><span style="text-decoration: underline;"><strong>Gỗ của cần:</strong></span></span><br />
Chúng tôi dùng cùng những miếng gỗ táo được chọn lựa bởi những ng làm nhạc cụ cổ điển tuyệt vời để sản xuất cần đàn. Loại gỗ này được chọn từ những cánh rừng Pháp và được làm khô tự nhiên trong 7 năm trước khi chúng được căt và sử dụng. Đó là mức độ ẩm được kiểm soát nghiêm ngặt khi chúng được cất giữ!</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">Fingerboard và phím</span></strong>:</p>
<p>Bạn có thể chọn gỗ hồng (rose) hoặc gỗ táo để làm FGB (viết tắt). Mỗi FGB được sửa đến 1/100 của milimet để chắc chắn rằng chúng cực kì thẳng. 24 phím với độ cao vừa phải sẽ được đóng chặt, cũng đuợc kiểm tra nghiêm ngặt và đánh bóng kĩ càng</p>
<p>Điều này giúp chúng tôi có thể sử dụng bước cải tiến 10% carbon và 90% gỗ thay thế cho các truss rod (thanh sắt điều chỉnh cần đàn) bằng kim loại truyền thống với 1 thanh carbon rất nặng để tăng lực cho cần đàn.</p>
<p>Áp dụng trong 18 năm với tất cả guitar và bass của <span class="highlight">Vigier</span>, công nghệ này làm cho cần khoẻ và bền vững qua nhiều sự thay đổi của khí hậu. Chúng tôi k bao giờ tin rằng thật là logic khi khoan 1 đường từ đầu đến cuối cần đàn để chèn 1 thanh truss rod kim loại vào trong. Vì cần đàn gỗ có độ rung tốt, chúng có thể hấp thụ năng lượng của dây đàn và kéo dài rung động. Những chiếc cần đàn 10/90 là đặc, các nốt kêu lâu hơn và âm thanh thực sự chính xác và mạnh mẽ!</p>
<p>1 phim thấp nhất (phím 0) luôn luôn được làm chặt trên tất cả các nhạc cụ của chúng tôi. Chúng cao hơn 1 chút so với các phím khác có vai trò thậm chí là để mở hoặc là ấn các nốt để đảm bảo chắc chắn về độ hoàn hảo về độ cao cảu dây, độ ma sát nhỏ nhất và tránh mất cao độ, đặc biệt khi sử dụng cần rung. Bây giờ, cảm ơn công nghệ mới, chúng tôi đã có thể làm rắn chắc cho nó và làm nó bên hơn và làm nó có thể tháo lắp linh động hơn vì thế có thể dễ dàng thay thế nếu cần thiết.</p>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;"><span style="color: red;"><span style="font-size: large;">Thân đàn:</span></span></span></strong></p>
<p>Chúng tôi đã thiết kế hình dạng của thân đàn với suy nghĩ làm tăng khả năng hài hoà cân đối giữa bạn - ng chơi đàn và cây đàn. Sự cân bằng tuyệt đối của cây guitar được giữ bằng cách căn chỉnh cần đàn với trục thân người. Cân nặng Excalibur  là xấp xỉ 3kg và thật không nghi ngờ gì nữa khi nói đó là 1 trong những chiếc guitar nhẹ nhất trong thể loại của nó. Vì thể, cho những người chơi đàn - những ng chơi đỉnh cao, cây đàn khớp với ng 1 cách vừa vặn và hầu như bạn k có cảm giác nó có điểm cuối cùng (?), chúng tôi tự tin rằng bạn sẽ cảm giác hoàn toàn làm chủ được nó và cảm nhận rõ sự nhẹ nhàng của nó</p>
<p>Cần rung 1 chiều lắp trên cây Excalibur Shawn Lane Signature  dành cho các guitarist đang tìm kiếm 1 âm thanh dày và dữ dội! Thường thường những hệ thống cầu đàn được khớp chặt bằng dao nhưng chúng tôi quyết định thay thế chúng với ball bearing (đại để như 1 cái gì đó hình tròn để đỡ) . 1 khi dao đã bị mòn, k có cách nào để cần rung có thể trở lại vị trí ban đàu vì chúng bị ma sát. Khi điều này xảy ra, bạn sẽ gặp phải 1 vấn đề vô phương cứu chữa. Ball Bearing của chúng tôi có thể bẻ 10 000 lần 1 phút và chúng bất khả mòn! Khả năng giữ cao độ tuyệt đối của cây Excalibur này cũng được đảm bảo qua bộ khoá đàn đã được sắp thẳng 1 cách chính xác với bộ dây và phím số 0 truyền thống của chúng tôi để loại bỏ ma sát ở ốc.</p>
<p>1 chi tiết quan trọng khác, đó là khoảng cách giữa cầu đàn và vị trí nơi dây được neo lại. Mỗi khớp yên ngựa có thể được khoá chặt vào trong vị trí mà mỗi 1 âm sắc được đặt và 1 con lăn được định vị ở điểm dây chốt để giảm tối đa ma sát. Cần rung 2010  có khả năng giữ ổn định cao độ rất tốt như hầu hết các thành phần thêm cho guitar như Floyd Rose. giống như Shawn Lane khao khát, đó là 1 sự bằng phẳng trên thân đàn.</p>
<p><strong><span style="font-size: large;"><span style="color: red;">Pickup:</span></span></strong></p>
<p>Trước khi bất kì pickup nào được mount (gắn chết) vào 1 con Excalibur của chúng tôi, nó đều được kiểm soát 100%. Mỗi điểm cực được điều chỉnh làm sao cho nó có độ cân bằng trong công suất. 1 điều nhỏ nhưng rát quan trọng đó là hâù hết các Humbucker chuẩn có 2 đinh vít điều chỉnh, nhưng chúng tôi bỏ thời gian ra để thêm vào đó 1 ốc thứ 3 vì thể mà độ cao hoặc độ nghiêng có thể được điều chỉnh cực kì dễ dàng và 1 sự cân bằng về khoảng cách giữa các sợ dây và các cuộn dây có thể giữ được!<br />
Thảo luận thêm:</p>
<p>http://www.aeguitar.org/forums/showthread.php?t=2030&amp;highlight=Vigier</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p>Bài này có nói đến cây đàn signature của Shawn Lane&#8230;</p>
<p><span style="font-size: large;"><span style="color: red;"><br />
Đây là hình ảnh của 1 số cây <span class="highlight">Vigier</span>: Rất tinh tế và lãng mạn như ng Pháp vậy!</span></span><strong></strong></p>
<p><span style="font-size: large;"><span style="color: red;"><strong>Chiếc đầu đàn trông như bàn chân của 1 vũ nữ balê:</strong></span></span><strong></strong></p>
<p><img src="http://www.guitarasylum.com/JPGGuitars/vigier/vigier_med.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p><img src="http://www.bostonguitar.com/pics/vigier-guitars.jpg" border="0" alt="" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/vigier-nh%e1%bb%afng-cay-guitar-bi%e1%ba%bft-hat/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Cấu trúc nhạc Blues</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/c%e1%ba%a5u-truc-nh%e1%ba%a1c-blues/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/c%e1%ba%a5u-truc-nh%e1%ba%a1c-blues/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Nov 2008 06:35:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Kĩ thuật &amp; Nhạc lí]]></category>

		<category><![CDATA[blues]]></category>

		<category><![CDATA[music theory]]></category>

		<category><![CDATA[Nhạc lý]]></category>

		<category><![CDATA[rock blues]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=157</guid>
		<description><![CDATA[

&#8212; Chủ tịch xã &#8212;
Trước hết, bạn có thể băn khoăn tại sao các nghệ sĩ nhạc blues có thể chưa bao giờ chơi cùng nhau nhưng một khi lên sân khấu họ có thể ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><!-- message --></p>
<div id="post_message_14582">
<p style="text-align: right;"><em><strong>&#8212; Chủ tịch xã &#8212;</strong></em></p>
<p>Trước hết, bạn có thể băn khoăn tại sao các nghệ sĩ nhạc blues có thể chưa bao giờ chơi cùng nhau nhưng một khi lên sân khấu họ có thể chơi rất bài bản như đã tập với nhau hàng năm trời. Đó có phải là một phép lạ không? Đương nhiên là không. Khi mà bạn biết được cấu trúc của nhạc blues, bạn cũng có thể làm được điều đó: chơi giai điệu chính của bài nhạc và thêm một vài đoạn solo nhỏ.</p>
<p><a href="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/joeb.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-160" title="SUN0827 Bonamassa" src="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/joeb-300x283.jpg" alt="" width="300" height="283" /></a></p>
<blockquote><p><span style="text-decoration: underline;"><em>Thảo luận tại forum:<br />
</em></span></p>
<p><span style="text-decoration: underline;"><em>http://www.aeguitar.org/forums/showthread.php?t=1711</em></span></p></blockquote>
<p>Ở Mĩ ban đầu các bài hát chỉ chơi 1 hợp âm. Về sau do ảnh hưởng của âm nhạc phương Tây (phương Tây không đại diện cho một nước nào cả mà đại diện cho cả tây bán cầu), các hợp âm đã được chuyển đổi trong một bài nhạc nhưng chúng không có cấu trúc nhất định. [SHOWTOGROUPS="9"]Trong quá trình phát triển đó, 12 bar Blues là kết cấu nổi trội nhất trong các loại kết cấu nhạc blues. 12 bar blues nghĩa là bản nhạc được chia thành 12 phần với một quy luật hòa thanh xác định. Khi chơi nhạc, chúng ta lặp đi lặp lại cấu trúc các phần đó cho đến khi bản nhạc kết thúc. Các loại cấu trúc khác là 8 bar blues, 16 bar blues, 24 bar blues&#8230; (chúng đều chia hết cho 4 :rolleyes: ) nhưng cấu trúc hay dùng nhất vẫn là 12 bar. Tất cả các cấu trúc đó lại có những cấu trúc con khác nhau trên phương diện hòa thanh (quá trình thay đổi các hợp âm <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" />) và kết quả là chúng ta có hàng trăm những cách khác nhau để chơi nhạc blues <img src='http://www.aeguitar.org/wp-includes/images/smilies/icon_surprised.gif' alt=':eek:' class='wp-smiley' /> </p>
<p>Để chơi một 12 bar blues cơ bản, bạn phải biết ít nhất 3 hợp âm (:wink: ), đó là các hợp âm bậc I IV V của giọng chủ. VD trong giọng E, bạn phải biết các hợp âm E(7)-A7-B7. Ở các giọng thứ, hợp âm bậc V được chơi ở dạng 7. Điều này có thể gây khó khăn với các bạn đã biết nhạc lý :frown: vì cái sự hòa thanh này không thể giải thích bằng lý thuyết cổ điển: chơi hợp âm 7 trưởng sẽ không phù hợp với giọng thứ :biggrin: Nên vậy thì cứ chơi thôi, để ý giải thích làm gì <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" /></p>
<p>Sau đây là VD một 12 bar blues ở giọng E:</p>
<p>E7 - E7 - E7 - E7</p>
<p>A7 - A7 - E7 - E7</p>
<p>B7 - A7 - E7 - B7</p>
<p>(đếm thử coi, đúng 12 nhé <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" />)</p>
<p>Quá trình hòa thanh này sẽ không thay đổi trong suốt bản nhạc</p>
<p>Tương tự chúng ta có 12 bar ở giọng A:</p>
<p>A7 - A7 - A7 - A7</p>
<p>D7 - D7 - A7 - A7</p>
<p>E7 - D7 - A7 - E7</p>
<p>Nhìn chung kết cấu sẽ là: I I I I IV IV II V IV I V</p>
<p>Một biến thể hay gặp nhất, gọi là quick change (chả biết dịch thế nào nữa :confused: ): chèn bậc IV vào bar thứ 2, và chúng ta sẽ có cấu trúc sau ở giọng E:</p>
<p>E7 - A7 - E7 - E7</p>
<p>A7 - A7 - E7 - E7</p>
<p>B7 - A7 - E7 - B7</p>
<p>Ở các giọng thứ, cấu trúc là tương tự chỉ thay đổi các hợp âm bậc I IV bằng hợp âm thứ thay vì hợp âm trưởng như trong giọng trưởng. Như vậy ta có 12 bar blues ở giọng Em:</p>
<p>Em - Am - Em - Em</p>
<p>Am - Am - Em - Em</p>
<p>B7 - Am - Em - B7</p>
<p><strong><span style="font-size: small;"><span style="color: darkorange;">Dịch từ <a href="http://12bar.de" target="_blank">http://12bar.de</a></span></span></strong>[/SHOWTOGROUPS]</div>
<p><!-- / message --></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/c%e1%ba%a5u-truc-nh%e1%ba%a1c-blues/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Nhạc lý về Blues</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/nh%e1%ba%a1c-ly-v%e1%bb%81-blues/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/nh%e1%ba%a1c-ly-v%e1%bb%81-blues/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Nov 2008 06:31:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Kĩ thuật &amp; Nhạc lí]]></category>

		<category><![CDATA[blues]]></category>

		<category><![CDATA[improvision]]></category>

		<category><![CDATA[Nhạc lý]]></category>

		<category><![CDATA[rock]]></category>

		<category><![CDATA[solo]]></category>

		<category><![CDATA[Theory]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=154</guid>
		<description><![CDATA[
&#8212; Chủ tịch xã &#8212;
Khi bạn muốn solo, bạn phải biết những nốt nào mà bạn có thể chơi. Những nốt đó gọi là scale (gam). Những nốt này phải phù hợp với giai điệu ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><!-- message --></p>
<div id="post_message_14579" style="text-align: right;"><em><strong>&#8212; Chủ tịch xã &#8212;</strong></em></div>
<div>Khi bạn muốn solo, bạn phải biết những nốt nào mà bạn có thể chơi. Những nốt đó gọi là scale (gam). Những nốt này phải phù hợp với giai điệu và hợp âm trong bài nhạc chứ không phải tất cả các nốt trên cần đàn. Khi xem các sách về guitar, phải có thể thấy hàng tá các scale và mode khác nhau, tỉ dụ như major và natural/melodic/harmonic minor, dorian, lydian, mixolydian, aeolian hay phrygian mode&#8230;.</div>
<div><a href="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/ericjohnson.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-162" title="ericjohnson" src="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/ericjohnson-300x196.jpg" alt="" width="300" height="196" /></a></div>
<div id="post_message_14579">
<p>Lý thuyết âm nhạc cổ điển xem ra không phù hợp lắm để miêu tả nhạc blues, nhưng chúng ta đâu còn lựa chọn. Từ quan điểm đó dẫn đến việc cho rằng blues điên rồ và sai trái do không đi theo chuẩn mực cổ điển: chơi các hợp âm 7 với các pentatonic scales, sử dụng 5 nốt thay vì 7 nốt như trong cổ điển, thêm nốt chẳng nằm trong scale nào cả, và những chuỗi hòa âm ngu ngốc&#8230;. Tất cả những cái đó có thể miêu tả blues!!! <img src='http://www.aeguitar.org/wp-includes/images/smilies/icon_surprised.gif' alt=':eek:' class='wp-smiley' /> </p>
<p><strong>Pentatonic scale</strong></p>
<p>Nói thế thôi chứ các bạn đừng có lo. Chúng ta cần một scale để chơi nhạc blues một cách cơ bản. Scale đó được gọi là pentatonic (ngũ cung) bởi vì nó chỉ tồn tại 5 nốt (penta=5) khác nhau. Chúng ta hãy bắt đầu với minor pentatonic scale (gam pentatonic thứ) (cũng có major pentatonic scale (gam pentatonic trưởng) nhưng chơi minor scale thích hợp hơn với nhạc blues). Chúng ta bắt đầu với giọng E (mi) vì nó là &#8220;giọng của guitar&#8221;: sử dụng tất cả các dây buông. Sau đây là thế tay thứ nhất của giọng E, pentatonic scale:</p>
<p>[SHOWTOGROUPS="9"]E I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;0-3-I</p>
<p>B I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;0-3&#8212;&#8211;I</p>
<p>G I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-0-2&#8212;&#8212;&#8212;I</p>
<p>D I&#8212;&#8212;&#8212;0-2&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>A I&#8212;&#8211;0-2&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;I</p>
<p>E I-0-3&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;I</p>
<p>(E minor pentatonic scale)</p>
<p>Các nốt trong thế tay trên là E - G - A - B - D: chỉ có 5 nốt, trong phạm vi 2 quãng tám của nốt E. Chơi toàn dây buông cũng là ở giọng E minor, nhưng chúng không nằm trong tiến trình gam (các nốt không liên tục như trong scale đã sắp xếp). Nhưng như vậy có nghĩa là bạn có thể solo chỉ bằng các dây buông và không cần dùng đến tay trái <img src='http://www.aeguitar.org/wp-includes/images/smilies/icon_surprised.gif' alt=':eek:' class='wp-smiley' /> (xin lỗi các bạn chơi tay trái <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" />)</p>
<p><strong>Nốt blues</strong></p>
<p>Bước tiếp theo, sau khi đã thông thạo pentatonic scale, để tạo được âm thanh ra chất blues, chúng ta thêm một nốt đặc biệt vào pentatonic scale, đó là nốt bậc 5 giảm. Đây là nốt blues cơ bản nhất. Bên cạnh đó còn có các nốt blues khác như bậc 3 giảm, bậc 7 giảm. Giờ thì với nốt blues đó, scale chúng ta đã học ở trên sẽ trở nên có màu sắc hơn:</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-0-3-I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;0-3&#8212;&#8211;I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;0-2-3&#8212;&#8212;&#8212;I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;0-2&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;I</p>
<p>I&#8212;&#8211;0-1-2&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>I-0-3&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>(E minor Blues scale)</p>
<p>Nốt blues là vị trí lý tưởng để bắt đầu bend dây lên nốt mới. Trên thực tế, trong đa số các bài hát, nốt blues được bend để đạt được thay vì được bấm trực tiếp. Bạn nào có khó khăn về kĩ thuật bend dây có thể tham khảo kĩ thuật này <a href="http://www.v18h.com/forums/showthread.php?t=1709" target="_blank">tại đây</a>. Với thế tay ở trên các bạn có thể dịch lên 12 cung để được thế tay có cao độ cao hơn một quãng tám</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-12-15-I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-12-15&#8212;&#8212;-I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-12-14-15&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-12-14&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>I&#8212;&#8212;-12-13-14&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>I-12-15&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>Chơi guitar có một lợi thế lớn: ông bạn chơi keyboard cùng bạn sẽ gặp lúng túng khi nhận được tín hiệu chuyển giọng từ bạn, hắn sẽ phân vân với các phím trắng và đen trên bàn phím trong khi bạn đã hoàn thành phần solo của mình một cách êm đẹp. Mẹo duy nhất ở đây là: các khung hình của scale là giống hệt nhau, chỉ có sự dịch chuyển tịnh tiến lên xuống.</p>
<p>Ví dụ, từ E minor blues scale, bạn có thể suy ra A minor blues scale bằng cách dịch thế tay của E minor scale lên 2 và 1/2 cung, tức là 5 cung đàn. Như vậy bạn sẽ được khung hình sau của A minor blues scale:</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-5-8-I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;5-8&#8212;&#8211;I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;5-7-8&#8212;&#8212;&#8212;I</p>
<p>I&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;5-7&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;I</p>
<p>I&#8212;&#8211;5-6-7&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>I-5-8&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-I</p>
<p>(A minor Blues scale)</p>
<p>Khi chơi trong các gam blues này với sự hòa âm của blues, bạn sẽ không gặp các nốt &#8220;sai&#8221;, chỉ có các nốt hay và không hay mà thôi. Sau đây sẽ là các patterns cho pentatonic/blues scale ở các giọng khác nhau: ( không hiểu sao mà lại không thấy giọng B)</p>
<p><img src="http://i64.photobucket.com/albums/h174/johnpetrucci1/scale_c.gif" border="0" alt="" /></p>
<p><img src="http://i64.photobucket.com/albums/h174/johnpetrucci1/scale_d.gif" border="0" alt="" /></p>
<p><img src="http://i64.photobucket.com/albums/h174/johnpetrucci1/scale_e.gif" border="0" alt="" /></p>
<p><img src="http://i64.photobucket.com/albums/h174/johnpetrucci1/scale_f.gif" border="0" alt="" /></p>
<p><img src="http://i64.photobucket.com/albums/h174/johnpetrucci1/scale_g.gif" border="0" alt="" /></p>
<p><img src="http://i64.photobucket.com/albums/h174/johnpetrucci1/scale_a.gif" border="0" alt="" /></p>
<p><strong><span style="font-size: small;"><span style="color: darkorange;">Dịch từ <a href="http://www.12bar.de" target="_blank">http://www.12bar.de</a></span></span> .</strong>Cảm ơn Eros đã giới thiệu với anh trang này <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/biggrin.gif" border="0" alt="" /></p>
<p>[/SHOWTOGROUPS]</p>
<p>Chúc các bạn solo vui vẻ. Và đừng quên blues là một dòng nhạc khó, yêu cầu đòi hỏi tập luyện rất nhiều, khác hẳn cách chơi đệm hát mà chúng ta hay chơi. Bạn nào muốn tiến xa trong con đường âm nhạc thì theo mình nên chơi blues. Còn một điều nữa, hãy nhớ <strong>blues không thể tán gái</strong> :frown: !!!</div>
<p><!-- / message --></p>
<p>_______________________________________________________________________</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/nh%e1%ba%a1c-ly-v%e1%bb%81-blues/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Cách nhớ scale trên cần đàn</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/cach-nh%e1%bb%9b-scale-tren-c%e1%ba%a7n-dan/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/cach-nh%e1%bb%9b-scale-tren-c%e1%ba%a7n-dan/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Nov 2008 06:21:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Kĩ thuật &amp; Nhạc lí]]></category>

		<category><![CDATA[mẹo]]></category>

		<category><![CDATA[Nhạc lý]]></category>

		<category><![CDATA[nhớ scale]]></category>

		<category><![CDATA[Theory]]></category>

		<category><![CDATA[tips]]></category>

		<category><![CDATA[tricks]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=150</guid>
		<description><![CDATA[
&#8212; bnnkhardcore &#8212;
Đợt này tập nhớ scale trên cần đàn nên có mầy mò mấy mánh nhỏ (các cao thu tiếp tục góp ý để ae học hỏi). Sau đây là cách nhớ major và ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><!-- message --></p>
<div id="post_message_38206" style="text-align: right;"><em><strong>&#8212; bnnkhardcore &#8212;</strong></em></div>
<div>Đợt này tập nhớ scale trên cần đàn nên có mầy mò mấy mánh nhỏ (các cao thu tiếp tục góp ý để ae học hỏi). Sau đây là cách nhớ major và minor scale trên cần đàn (bắt đầu từ dây số 1&#8211;&gt;6, 3 notes/string).</div>
<div id="post_message_38206">
<p>Ví dụ điển hình là G major (gồm G A B C D E F#)</p>
<p><img src="http://www.guitar-dreams.com/modules/guitarlessons/uploads/Scales/Diatonic/15FRET.jpg" border="0" alt="" /></p>
<p>Pattern rất dễ nhớ. Các nốt bấm sẽ rơi vào trong vòng 6 phím. Gọi nốt chủ là phím số 3, tab ra sẽ là:</p>
<p>E:5-7-8</p>
<p>B:5-7-8</p>
<p>G:4-5-7</p>
<p>D:4-5-7</p>
<p>A:3-5-7</p>
<p>E:3-5-7</p>
<p>Để áp dụng cho tất cả các scale khác thì chỉ việc tìm nốt chủ trên dây Mi thấp rồi lặp lại pattern để đi từ nốt dây 1 lên dây 6. Với G minor scale, patter sẽ là</p>
<p>E:5-6-8</p>
<p>B:4-6-8</p>
<p>G:3-5-7</p>
<p>D:3-5-7</p>
<p>A:3-5-6</p>
<p>E:3-5-6</p>
<p>Đây là sequence cơ bản. Để nhớ vị trí tất cả các nốt của scale trên đàn thì có thể tham khảo tại <a href="http://www.all-guitar-chords.com/guitar_scales.php?qqq=9&amp;scch=C&amp;scchnam=Major&amp;get2=Get&amp;choice=1" target="_blank">http://www.all-guitar-chords.com/gui&#8230;  Get&amp;choice=1</a>. Nhưng pattern cơ bản ở trên có thể giúp ta định hình các nốt trong scale mà không cần phải học thuộc lòng chúng. Ví dụ sau khi nhớ pattern của G major scale trên thì có thể thấy G major có một nốt thăng là F#. G minor có Bb và Eb&#8230; Sequence này còn dùng để luyên diatonic scale và chùm 3 (triplets).</div>
<p><!-- / message --></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/cach-nh%e1%bb%9b-scale-tren-c%e1%ba%a7n-dan/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>Đi sâu về Chord Progression</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/di-sau-v%e1%bb%81-chord-progression/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/di-sau-v%e1%bb%81-chord-progression/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Nov 2008 06:19:09 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Kĩ thuật &amp; Nhạc lí]]></category>

		<category><![CDATA[chord]]></category>

		<category><![CDATA[chord progression]]></category>

		<category><![CDATA[composing]]></category>

		<category><![CDATA[hợp âm]]></category>

		<category><![CDATA[music theory]]></category>

		<category><![CDATA[Nhạc lý]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=148</guid>
		<description><![CDATA[

&#8212; bnnkhardcore &#8212;
Trước hết cần nắm bắt quy luật của hợp âm (broken chord, arpeggios) cơ bản trên đàn. Để ý thấy hợp âm Am gồm các nốt A, C, E (như bác Nu nói). ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><!-- message --></p>
<div id="post_message_31498">
<p style="text-align: right;"><em><strong>&#8212; bnnkhardcore &#8212;</strong></em></p>
<p>Trước hết cần nắm bắt quy luật của hợp âm (broken chord, arpeggios) cơ bản trên đàn. Để ý thấy hợp âm Am gồm các nốt A, C, E (như bác Nu nói). Các nốt này được lấy từ các nốt 1, 3 và 5 trong scale Am (<strong>A</strong> B <strong>C</strong> D <strong>E</strong> F G). Áp dụng quy luật sẽ có Dm gồm D F A, F major gồm F A C&#8230;</p>
<p>Vậy scale gồm các hợp âm nào? Ví dụ C major gồm C Dm Em F G Am Bo(B diminished, cái này thuộc octatonic scale sẽ giải thích sau). Để ý thấy các broken chord trên sẽ không có nốt nào thăng, giáng, hợp với scale C major không có nốt thăng, giáng nào.</p>
<p><em>Thảo luận thêm<br />
</em></p>
<p><em>http://www.aeguitar.org/forums/showthread.php?t=3115<br />
</em></p>
<p>Để nắm bắt quy luật xây dựng hợp âm cho giọng trưởng ta bắt đầu từ quy luật major triads (Tonic, Subdominant và Dominant, hay T S D mà ta thường nghe nói).</p>
<p>C major</p>
<p>Giọng:   C    D    E    F    G    A    B</p>
<p>Nốt:      I     ii    iii    IV   V    vi   viio</p>
<p>Hợp âm: C   Dm  Em  F    G    Am  Bm(dm)</p>
<p>I:tonic hay nốt chủ, hợp âm sẽ là hợp âm trưởng</p>
<p>II: subdominant hay nốt cách nốt chủ bên TRÊN đúng một quãng 5 chẵn (perfect fifth, 7 semintones), hợp âm trưởng</p>
<p>III: dominant hay cách nốt chủ bên DƯỚI đúng một quãng 5 chẵn, hợp âm trưởng</p>
<p>các số la mã viết thường là hợp âm thứ, viết hoa là trưởng (có &#8220;o&#8221; là diminished).</p>
<p>Circle of Fifths giúp chúng ta nhận ra T S D chord prog cho hợp âm trưởng. Để nhìn rõ hơn có thể nhìn vào bảng sau:</p>
<p><img src="http://www.i-love-guitar.com/images/guitar_chords_major_keys.gif" border="0" alt="" /></p>
<p>Sau khi đã có component chords (hợp âm thành phần) cho các giọng trưởng ta có thể xây dựng hợp âm thành phần cho các giọng thứ. Nhớ lại rằng để có giọng thứ ta chỉ việc giáng các nốt 3,6,7 của giọng trưởng xuống nửa cung, sau đó thay các nốt T S D của giọng trưởng vào các nốt này (đây là cách nhớ &#8220;máy móc&#8221;). Nếu nắm chắc Circle of Fifth ban có thể tìm ngay relative minor của hợp âm trưởng. Ví dụ của C là A</p>
<p>C major</p>
<p>C  D  E  F  G  A  B</p>
<p>I  ii   iii  IV V  vi viio</p>
<p>A minor</p>
<p>A  B  C  D  E  F  G</p>
<p>i  iio III  iv  v VI VII</p>
<p>chẳng qua là việc sắp xếp lại T S D theo scale Am. Nghĩa là các chord thành phần của Am sẽ không khác gì so với C ngoài thứ tự.</p>
<p>Do vậy Em sẽ gồm</p>
<p>giọng:   E     F#         G     A     B     C     D</p>
<p>nốt   :   i      iio          III    iv    v     VI    VII</p>
<p>hợp âm: Em   F#mdm   G     Am  Bm   C     D</p>
<p>và Bm nằm trong giọng Em (nên em dùng B5 trong Orion không &#8220;sai&#8221; bác Nu nhé <img class="inlineimg" title="10" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/10.gif" border="0" alt="" />)</p>
<p>Việc nắm bắt hợp âm thành phần trong mỗi giọng khá quan trọng trong quá trình sáng tác cũng như chuyển giọng. Lặp lại ví dụ chuyển giọng từ G về D (ở bai post số 1), nhìn vào hình ta thấy rõ các &#8220;common chords&#8221; của 2 giọng là G, Em, Bm và D. Do vậy sử dụng &#8220;chord prog&#8221; này có thể &#8220;modulate&#8221; từ G về D như ở ví dụ ban đầu. Bản thân mình cũng gặp nhiều rắc rồi khi nhớ mấy thứ này nhưng cũng giống như tập đàn, học nhạc cần thời gian và luyện tập mới thành thục được. Hi vọng bài này sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn mình đang chơi &#8220;giọng&#8221; gì trên đàn (nhớ là diatonic scales thôi nhé, mấy bác chuyên chromatic, diminished hay pentatonic đừng có vào bắt bẻ em <img class="inlineimg" title="10" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies/10.gif" border="0" alt="" />)</p>
<p>Các chord prog phổ biến (một số cái nhặt bên topic nhạc lí blues)</p>
<p>3 chord: I-IV-V, 8-bar blues, 12-bar blues, II-V-I</p>
<p>4 chord: I-V-v-IV, i-VII-VI-v&#8230;</p>
<p>(các bác đóng góp thêm)</p></div>
<p><!-- / message --></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/di-sau-v%e1%bb%81-chord-progression/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>The Circle of Fifths, cách nhớ Diatonic và Modulation scale</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/the-circle-of-fifths-cach-nh%e1%bb%9b-diatonic-va-modulation-scale/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/the-circle-of-fifths-cach-nh%e1%bb%9b-diatonic-va-modulation-scale/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Nov 2008 06:17:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Kĩ thuật &amp; Nhạc lí]]></category>

		<category><![CDATA[chord]]></category>

		<category><![CDATA[Circle of Fifths]]></category>

		<category><![CDATA[Diatonic]]></category>

		<category><![CDATA[Modulation]]></category>

		<category><![CDATA[Nhạc lý]]></category>

		<category><![CDATA[scale]]></category>

		<category><![CDATA[Theory]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=146</guid>
		<description><![CDATA[
&#8212; Bnnkhardcore &#8212;

Nếu ai đó hỏi bạn Am gồm những nốt nào. Câu trả lời quá đơn giản: A B C D E F G. Tương tự với C. Nhưng nếu ai đó hỏi bạn ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><!-- message --></p>
<div id="post_message_31172" style="text-align: right;"><strong><em>&#8212; Bnnkhardcore &#8212;</em></strong></div>
<div style="text-align: right;"></div>
<div>Nếu ai đó hỏi bạn Am gồm những nốt nào. Câu trả lời quá đơn giản: A B C D E F G. Tương tự với C. Nhưng nếu ai đó hỏi bạn B gồm những nốt nào thì không phải ai cũng bật ngay ra được (câu trả lời là B C# D# E F# G# A#). Vậy khi &#8220;phiêu&#8221; ngoài nhớ nốt trên đàn cần phải biết scale cấu tạo ra sao. Nếu thằng accord nó bảo tao đang chạy vòng Bm, thì cần phải biết các nốt trong Bm để &#8220;solo&#8221; theo được. Sau đây là cách tạo hợp âm trưởng và thứ.</div>
<div></div>
<div><em>Xem thảo luận thêm:<br />
</em></div>
<div id="post_message_31172">
<p><em>http://www.aeguitar.org/forums/showthread.php?t=3115</em></p>
<p>Điều cơ bản cần nhớ là Mi-Fa &amp; Si-Do là hai cặp nốt duy nhất cách nhau 1/2 cung. Quy luật để xây dựng giọng thứ (tự nhiên) bắt đầu từ W H W W H W W (2 1 2 2 1 2 2). Ví dụ Am:</p>
<p>A B C D E F G</p>
<p>(2 1 2 2 1 2 2)</p>
<p>Rất &#8220;vừa&#8221; vì B-C và E-F đều cách nhau nửa cung. Lặp lại quy tắc với Dm.</p>
<p>D E F G A Bb C</p>
<p>(2 1 2 2 1  2  2)</p>
<p>Lí do B bị giáng là do quy luật 2 1 2 2 1 2 2, vì B cách C 1/2 cung nên B giáng sẽ giúp giữ thăng bằng cho quy luật (1 2) ở nốt thứ 5 và 6). Bm</p>
<p>B C# D E F# G A</p>
<p>(2 1   2 2 1   2  2)</p>
<p>C và F cần phải được thăng để đảm bảo quy luật (cũng lại do B-C và E-F cách nhau nửa cung).</p>
<p>Tất nhiên sau này khi đã chơi và tìm hiểu nhiều thì thường sẽ thuộc lòng các nốt trong scale, nhưng nếu khi nào đó chợt quên thì đây là cách để xây dựng là scale. Sau khi có giọng thứ, ta xây dựng giọng trưởng bằng cách đẩy các nốt số III, VI và VII lên 1/2 cung. Vậy nên</p>
<p>A scale:  A B C# D E F# G# (F#m relative)</p>
<p>D scale:  D E F# G A B   C# (Bm relative)</p>
<p>B scale:  B C# D# E F# G# A# (G#m relative)</p>
<p>H bạn đã xây dựng xong giọng trưởng từ giọng thứ. Mình muốn ghi chú thêm một vài điểm để tránh hiểu lâm. Thứ nhất về quy luật W H W W H W W (2 1 2 2 1 2 2). Quy luật này chỉ dành để xây dựng giọng thứ tự nhiên, sau đó đẩy (augment) các nốt III, VI và VII để tạo giọng trưởng. Nếu bạn muốn xây dựng giọng trưởng trực tiếp (không qua giọng thứ), ta dùng quy luật W W H W W W H (2 2 1 2 2 2 1), với nốt đầu là nốt chủ của giọng (ví dụ Đô trưởng thì bắt đầu từ C). Từ đó ví dụ để tạo giọng La trưởng:</p>
<p>A B C# D E F# G#</p>
<p>(2 2 1 2 2 2 1)</p>
<p>đúng như quy luật đã đặt ra. (B-C nửa cung(1) nhưng B-C# sẽ la 1 cung(2)&#8230;). Từ giọng trưởng để tạo giọng thứ ta giáng các nốt III, VI và VII xuống nửa cung. Do dó Am</p>
<p>A B C D E F G</p>
<p>(2 1 2 2 1 2 2)</p>
<p>tuân theo đúng quy luật của giọng thứ. Hi vọng thế này sẽ giúp giải thik một số thắc mắc trong việc xây dựng scale.<br />
Để giúp nhớ giọng tốt hơn người ta thường dùng <span style="color: red;">circle of fifths</span></p>
<p><span style="color: red;"><span style="font-size: small;">the Circle of Fifths:</span></span><br />
<img src="http://www.charlieburrus.com/MathInMusic/Circle%20of%20Fifths.GIF" border="0" alt="" /></p>
<p>Nhìn vào hình ta thấy vòng ngoài cùng chỉ các giọng trưởng. Vòng trong cùng là các &#8220;relative minor keys&#8221; (giọng thứ tương đương). Relative minor keys như mình nói là các giọng thứ có cùng các nốt với giọng trưởng tương đương, chỉ khác thứ tự nốt bắt đầu. Ví dụ Am và C không có nốt thăng giáng nào, nhưng Am bắt đầu từ A trong khi C bắt đầu từ C&#8230;</p>
<p>Tiếp theo ta để ý thấy nếu đi theo chiều kim đồng hồ, mỗi gam trưởng trong &#8220;circle of fifths&#8221; cách nhau một quãng 5 (perfect fifth), hay 7 nửa cung. Ví dụ từ C qua G sẽ là C D E F G (2 2 1 2 = 7 semitones), từ G sang D la G A B C D (2 2 1 2 = 7 semitones). Quy luật tương tự áp dụng với các giọng thứ ở bên trong. Am lên Em là A B C D E (2 1 2 2 = 7), Em lên Bm là E F G A B (1 2 2 2 = 7).</p>
<p>Tiếp theo để nhớ relative key của một giọng thứ, ta áp dụng quy luật minor third (quãng 3 thứ, ). Từ Am lên C chỉ việc đi qua B, tức là A-B-C (2 1 = 3 semitones), từ Em lên G qua F, tức là E F G (1 2 = 3). Bây h muốn tìm relative major key của một giọng trưởng ta áp dụng 1 lần major third (quãng 3 trưởng, 4 semintones), 1 lần minor third và 1 lần major second (quãng 2 trưởng) vậy nên ta có vòng ở giữa gọi là minor triad. Ví dụ từ C qua A ta bắt đầu từ C. 1 lần major third cho ta E, 1 lần minor third cho ta G và cuối cùng từ G lên A là một lần major second. Do đó từ Đô trưởng về La thứ sẽ là C-E-G-A (2 2 =4, 1 2 =3, 2=2)</p>
<p><span style="color: seagreen;">Còn gì hay ở Circle of fifths nữa?</span></p>
<p>Giả sử bạn không chắc về cách xây dựng scale. Mà chỉ nhớ mang máng là Đô trưởng không có nốt thăng nào, hoặc Sol trưởng có F#. Nhìn vào circle of fifths bạn có thể nhận ra ngay tất cả các nốt thăng của các giọng khác.</p>
<p>C 0#</p>
<p>G 1# F#</p>
<p>D 2# F# C#</p>
<p>A 3# F# C# G#</p>
<p>E 4# F# C# G# D#</p>
<p>B 5# F# C# G# D# A#</p>
<p>F# 6# F# C# G# D# A# E#</p>
<p>C# 7# F# C# G# D# A# E# B#</p>
<p>Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy Sol trưởng có F#. Nhìn vào circle of fifth giọng tiếp theo là Rê trưởng, sẽ có F#, và nốt thăng tiếp theo tuân theo đúng quy luật perfect fifth. Bằng chứng F-G-A-B-C (2 2 2 1 = 7semitones). Giọng trưởng tiếp theo là La trưởng, sẽ có F#, C# và C# (+7 semitones)=G#&#8230; Do vậy chỉ cần nhớ vòng ngoài cùng (trong cùng) của circle of fifths ta có thể xây dựng tất cả các scale cơ bản. Đó là cái hay của circle of fifths, cũng như tính logic của music theory.</p>
<p>Cái tên &#8220;Circle of Fifths&#8221; bắt nguồn từ việc các giọng trưởng (cũng như thứ tự nhiên) được sắp xếp cách nhau đúng một quãng 5 chẵn (perfect fifth). Bây h nếu ta đi ngược chiều kim đồng hồ, để ý thấy mỗi giọng sẽ cách nhau một quãng 4 chẵn (perfect fourth, 5 semitones, hay 5 nửa cung), do đó nếu đi ngược người ta có &#8220;circle of fourth&#8221;.</p>
<p>Hiểu và nhớ &#8220;circle of fifth&#8221; rất có lợi trong việc nhớ giọng, đảo giọng (modulation) và là nền cơ bản cho hòa thanh.<br />
<span style="color: red;"><span style="font-size: small;">Modulation:</span></span></p>
<p>Nếu bạn có ý định sáng tác nhưng lại muốn sáng tạo một chút. Ví dụ bài hát đang viết giọng G trưởng, làm sao để chuyển về giọng D trưởng? Ta để ý thấy G trưởng có một nốt thăng là F#, D trưởng có 2 nốt thăng là C# và F#. Vậy chord prog nào sẽ giúp ta &#8220;modulate&#8221; (chuyển) từ G về D. Nếu dùng Circle of fifths bạn sẽ thấy relative minor key của G là Em, của D là Bm. Vậy khi đang chơi giọng G trưởng, ta có thể nhảy sang D trưởng bằng cách dùng hợp âm G&#8211;&gt;Em&#8211;&gt;Bm&#8211;&gt;D. (nếu dùng kiểu power chord có thể là G5&#8211;&gt;E5&#8211;&gt;B5&#8211;&gt;F#5&#8211;&gt;D5</p>
<p>Đổi giọng từ hợp âm thứ có thể tận dụng các giọng thứ melodic (dịch sao nhỉ) và thứ hòa âm. Ví dụ Am harmonic có G#, có thể dùng để đảo về A, hoặc B, Am melodic có thể đảo về G, Em.</p>
<p>Thử áp dụng thực tế với bài Nothing else matters của Metallica. Có thể thấy rõ bài bắt đầu bằng Em. Chord Prog (hợp âm=broken chord) của bài là Em, D, C,B. Nốt thăng duy nhất của Em là F# nhưng James dùng Em harmonic nên D được thăng lên thành D#. Trong các hợp âm trên D có F#, B có F# và D# do vậy chord prog này là hợp lí. Giả sử James muốn &#8220;modulate&#8221; về B scale anh ta hoàn toàn có thể, vì từ Em đã đưa về hợp âm B (broken chord) và việc &#8220;phiêu&#8221; thêm các nốt C# (sẵn có trong Em melodic), A# hay G# là hoàn toàn có thể. Bằng chứng là live ta thấy James cho C# vào đoạn solo và nghe vẫn &#8220;hợp&#8221;.</p>
<p>Điều này đặc biệt có lợi khi bạn muốn tạo ra sự thay đổi về cấu trúc bài hát (nhất là ý tưởng). Việc đổi giọng rất phổ biến trong nhạc cổ điển và các loại rock tương đối phức tạp như progressive rock. Điều quan trọng ở đây là khi modulate ta thường dùng các giọng khá &#8220;gần&#8221; nhau tức là chung 1 hoặc vài nốt thăng, giáng. Khi đó việc chuyển sẽ đơn giản hơn cho người mới tìm hiểu. Tuy nhiên ở trình độ cao, việc &#8220;đảo giọng&#8221; trở nên phức tạp khi 2 giọng cách xa nhau (khác về các nốt cấu tạo giọng), hơn nữa phải đi liền với ý tưởng của bai. Ví du bài hát nói về sự mất mát (&#8211;&gt; buồn) thường dùng các giọng thứ (như Am, F#m), nhưng sau đó người viết muốn tỏ ra rằng phải tiếp tục bước đi (lạc quan), có thể đảo về các giong trưởng&#8230; Nothing else matters là một ví dụ nếu như mọi người tìm hiểu kĩ hơn về nguồn gốc của bài hát.</p>
<p>Có khá nhiều loại modulation nhưng cơ bản nhất là common-chord modulation như nói ở trên. Khi thành thục bạn có thể biến hóa hơn bằng việc dùng phrase modulation, chromatic modulation&#8230; Những cách này sẽ dành để thảo luận sau.</p></div>
<p><!-- / message --></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.aeguitar.org/2008/11/the-circle-of-fifths-cach-nh%e1%bb%9b-diatonic-va-modulation-scale/feed/</wfw:commentRss>
		</item>
		<item>
		<title>POD X3, TonePort UX8</title>
		<link>http://www.aeguitar.org/2008/11/pod-x3-toneport-ux8/</link>
		<comments>http://www.aeguitar.org/2008/11/pod-x3-toneport-ux8/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 02 Nov 2008 06:04:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator>symphonyx</dc:creator>
		
		<category><![CDATA[Bài viết]]></category>

		<category><![CDATA[Guitar Gears]]></category>

		<category><![CDATA[Gear]]></category>

		<category><![CDATA[gears]]></category>

		<category><![CDATA[Line6]]></category>

		<category><![CDATA[Live]]></category>

		<category><![CDATA[Phơ]]></category>

		<category><![CDATA[POD]]></category>

		<category><![CDATA[recording]]></category>

		<category><![CDATA[Rig]]></category>

		<category><![CDATA[Software]]></category>

		<category><![CDATA[studio]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.aeguitar.org/?p=139</guid>
		<description><![CDATA[
&#8212; Symphony X &#8212;
Chẹp, mọi ng chắc biết em là fan của Line6 roài nên nghĩ bài viết này là để &#8230; lăng xê brand nhưng sự thật &#8230; đúng là như vậy!
Hãy khoan close ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><!-- message --></p>
<div id="post_message_20045" style="text-align: right;"><strong><em>&#8212; Symphony X &#8212;</em></strong></div>
<div>Chẹp, mọi ng chắc biết em là fan của Line6 roài nên nghĩ bài viết này là để &#8230; lăng xê brand nhưng sự thật &#8230; đúng là như vậy!</p>
<p>Hãy khoan close nào, giờ chúng ta thử tìm hiểu xem loạt sản phẩm mới này của Line6 có những gì đáng chú ý nhỉ. Chẹp.</p></div>
<div id="post_message_20045">
<p><a href="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/03.jpg"><img class="alignnone size-medium wp-image-140" title="POD X3" src="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/03-300x162.jpg" alt="" width="300" height="162" /></a></p>
<p>Thời gian gần đây em để ý thấy bọn lợn Line6 này ra sản phẩm mới liên tục. Ko hiểu nó kiếm đâu ra tài chính, tài lực để ra lò nhiều sản phẩm mới như vậy. Mới gần đây ra con TubeAmp sản phẩm hợp tác với hãng Bogner ( 1 hãng amp quá đỉnh). 1 thời gian ngắn sau đã xuât xưởng Pocket POD, rồi Toneport GX, và gần đây nhât là POD X3, POD X3 Live và TonePOrt UX8.</p>
<p>Dưới đây là bảng ghi các thông số của POD Family, qua đó bạn có thể thấy rõ là POD X3 cái tiến nhiều như thế nào, đặc biệt là mặt thu âm và chức năng Dual Rig, Dual Instrument, Dual Output!</p>
<p>http://line6.com/pod/compare.html</p>
<p><a href="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/03_2.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-141" title="POD X3 Live" src="http://www.aeguitar.org/wp-content/uploads/2008/11/03_2-300x162.jpg" alt="" width="300" height="162" /></a>Những điểm nhấn của POD X3 (cái này và POD X3 Live gần tương đồng nhau):</p>
<p>- Được bổ sung rất nhiều Vintage Amp hiếm, Modern Higain amp, &#8230; và Effects.</p>
<p>- Màn LCD Rộng hơn, cải tiến nhiều hơn trong việc chỉnh sửa patch.</p>
<p>- Bổ sung các Pre-Amp chuyên cho Vocal, Bass và các Cabinet kèm theo. Như vậy, POD X3 đã trở thành 1 giải pháp tổng thể thực sự cho HomeStudio hay thậm chí cả các Professional Studio. Thực ra chức năng này cũng có thể sử dụng được với PODxt, TonePort nhưng bạn sẽ phải mua thêm các Model Packs. Và PODxt ko có amp chuyên cho Vocal mà chỉ có 1 tube pre-amp để làm pre-amp cho các nhạc cụ khác và vocal khi dùng với PODxt. Khi bạn sử dụng các nhạc cụ khác nữa như Kèn, Sáo, nhị, Violin,&#8230; bạn cũng có thể sử dụng POD X3 như 1 Effector mà 1 Tube Pre-Amp chất lượng cao.</p>
<p>- Số lượng MIc đã lên tới con số 6. CHo phép bạn mở rộng hơn khả năng căn chỉnh âm thanh.</p>
<p>- Dual Modeling: đây là điều tuyệt vời nhất mà Line6 đã mang lại từ sản phẩm Line6 Vetta. Chức năng này cho phép bạn có thể đồng thời cắm 2 đường input vào và ra với 2 hệ thống âm thanh giả lập hoàn toàn khác biệt. Bạn có thể vừa cắm Micro vừa cắm Accoustic guitar vào và thu âm trực tiếp. Guitar và bass của bạn khi cắm vào POD X3 sử dụng chế độ này, nó sẽ được split ra làm 2 luồng tín hiệu chạy song song, mỗi đường tín hiệu được xử lý bởi các hệ thống Amp, EQ, FX,&#8230; tách biệt và cho kết quả là âm thanh hòa trộn, hoặc tách kênh riêng rẽ với tham số Pan do bạn điều chỉnh!  Bạn có thể điều chỉnh độ mix giữa 2 chuỗi phơ pháo đó bằng Expression Pedal với POD X3 Live! <strong>Thật là vãi lìn! Tôi xin phép được chửi bậy vì ***** thể chịu nổi sự thèm khát! +_+</strong></p>
<p><strong></strong>- Recording: mặt này thì POD X3 có cải tiến khá nhiều so với POD Xt. Nó có thêm 1 đường In cho XLR Micro. Output thì ngoài USB Interface, 1/4 inch Mono L/R, Stereo Headphone như POD xt ra nó còn bổ sung ngõ xuất đồng trục S/PDIF Stereo Digital Audio Output với tín hiệu xuất ra sạch sẽ như vừa tắm với xà phòng Safeguard vậy.</p>
<p>Các sản phẩm của Line6 luôn được nhắc đến với sự đa năng, tính tiện dụng, công nghệ cao và chất lượng tuyệt vời. Với tính năng thu âm qua ngõ xuất / nhập tín hiệu âm thanh số    sử dụng USB Interface, tín hiệu bạn thu vào máy tính sẽ k quan tâm tới cái soundcard bạn có dở hay xịn, nó sẽ luôn là tín hiệu gốc, sạch sẽ, ổn định. Do đó, kể cả với 1 cái máy tính ghẻ, bạn cũng có thể có được 1 sản phẩm thu âm vãi lìn! PODxt và POD X3 đều rất mạnh về thu âm. Nó có bộ 24-bit A/D and D/A Converters chuyển đổi tín hiệu 24 Bit cho âm thanh có độ phân giải rất cao, sâu. Thu âm với sampling rate lên đến 96Khz. Thừa sức đạt tiêu chuẩn chuyên nghiệp.</p>
<p>SNR: lên tới trên 100db cho âm thanh cực kì sạch sẽ và ko bị biến dạng (distort).</p>
<p>Hỗ trợ ASIO Driver hoàn toàn với tốc độ xử lý rất nhanh cho độ trễ (Latency) giữa âm thanh vào và âm thanh đã được xử lý là con số 0.<br />
- Effect Loop: tính năng này ko mới nhưng cũng đáng được nói. Nó cho phép bạn sử dụng POD X3 cùng với các Effect khác mà bạn đang có, và sắp xếp nó trong chuỗi effect đang chỉnh sửa trong POD X3.</p>
<p>- Ngoài ra: POD X3 Live được built với cấu trúc chắc chắn, khỏe khoắn, thực sự là 1 sản phẩm xứng đang để bạn &#8230; dẫm đạp thoải mái trên sk! <img class="inlineimg" title="Biggrin" src="http://www.aeguitar.org/forums/images/smilies