Guitar Gears

Bình luận, giới thiệu về guitars và các món đồ chơi cho âm nhạc.

Kĩ thuật & Nhạc lí

Các bài tập kĩ thuật, chạy ngón. Các bài hướng dẫn nhạc lý.

Thu âm & Tin học

Các thủ thuật thu âm, hướng dẫn sử dụng máy tính cho âm nhạc.

Thư viện

Các albums nhạc, các bản tabs và scores dành cho guitar.

Tin tức

Tin tức, thông báo từ ban quản trị forum.

Home » Bài viết, Guitar Gears

Line6’s Hardcore Fan’s Handbook

Submitted by symphonyx on Friday, 28 November 2008No Comment

— Symphony X —

(Y!M: symphonicmind - Feel free to ask me any question)

Đây là nỗ lực rất lớn của tớ nhằm giúp Line6’s Products trở nên gần gũi với dân chơi Guitar ở VN hơn. Tài liệu này được xây dựng từ những kinh nghiệm bản thân và kết hợp tài liệu tham khảo của:

- Wipedia

- Line6.com

- Line6 Model Pack’s handbook

- Line6 PODxt Manual

__________________________________________________ _________________

Line6’s Hardcore Fan’s Handbook

1. POD Family

1.1. History

1.1.1. Line6

Thông tin sơ qua về Line6: Line6 thành lập vào giữa thập kỉ 90 ở Calabasas, California. Hãng chuyên nghiên cứu các công nghệ/thiết bị số giả lập Amplifier, Effect Processor, Electric/Acoustic Guitar (vãi đái chưa Guitar nó cũng giả lập thì chả hiểu còn gì k nằm trong tay nó nữa T_T). Sau vài năm nghiên cứu miệt mài, Line6 cho ra đời Digital Amplifier giả lập Amplifier thật sử dụng công nghệ kĩ thuật số (Digital) đầu tiên trên thế giới có tên AxSys 212.

Các sản phẩm của Line6 nhìn chung đều dễ sử dụng, thân thiện với máy tính (kết nối, điều chỉnh trên máy tính dễ dàng). Điều đặc biệt nhất chính là khả năng cập nhật Firmware (đại để là phần mềm điều khiển phần cứng được bắn thằng vào bộ nhớ ROM (Read-Only-Memory: Chỉ xem, cấm sờ )) từ Internet vào thiết bị. Bạn có thể cập nhật các bản sửa lỗi, các hiệu ứng, amp/cab… mới từ website của hãng, thậm chí là cập nhật từ model này sang model mới hơn (Ví dụ điển hình: Vetta I có thể cập nhật để chuyển lên Vetta II). Thêm nữa Line6 có 1 cộng đồng user cực hoành tráng và năng động, từ forum đến Customtone.com. Bạn có thể tải các tone của các user khác về và sử dụng ngay lập tức chỉ với vài cái click chuột).

1.1.2. Cuộc cách mạng kì diệu của công nghệ Xử lý tín hiệu số (DSP)

Các kĩ sư của Line6 thưở ban đầu được thuê về làm việc trong 1 phòng thí nghiệm bí mật với rất nhiều amp đắt tiền. Họ nghiên cứu về các thiết bị sử dụng bóng đèn (Tube), sự đáp ứng khác nhau của các loại bóng khác nhau ở những bản thiết kế amplifier nhất định. Cách tube xử lý tín hiệu đầu vào, “nhuộm màu” và “uốn nắn” nó, ở mức độ nào thì tín hiệu bị méo (distort) và chất lượng/đặc điểm của âm thanh distort đó, điều gì xảy ra khi tín hiệu này được chuyển tới các thành phần khác của hệ thống – vô cùng phức tạp nhưng tất cả đều có thể phân tích được dưới dạng dữ liệu điện tử.

Sau khi đã thu thập đủ kiến thức và kinh nghiệm cần thiết, họ bắt tay vào việc tái tạo lại các quá trình xử lý tín hiệu phức tạp của tube amp và thiết bị điện tử trong môi trường Digital 100%. Họ cũng nhận thức được tầm quan trọng của Speaker Cabinet trong âm thanh tổng thể và các hiệu ứng như EQ, Delay, Compressor, Reverb… giúp tô điểm cho “hạt đậu thần” thêm hoàn hảo.

Amp, Cabinet, Effect Models

Thành quả nghiên cứu về tone và công nghệ của Line6 được mang tới người dùng dưới dạng các Amp, Cab, FX Model dựa trên 1 bộ sưu tầm Gear đã được chứng nhận bởi các guitarist trên toàn thế giới:”Tone Classics”. Những Model này được căn chỉnh rất cẩn thận, so sánh có nhóm chứng (A/B Comparison) 1 cách khoa học với thiết bị thật, đồng thời theo dõi sát sao những thay đổi do biến đổi cường độ âm thanh, setting của tone gốc và nút Gain. Những đặc tính âm học của Gain và EQ của gear được chọn để model đều được đo lường rất cẩn thận do đó những tác động đối với những nút này trên gear đó đều có hiệu quả tương ứng với gear giả lập với độ chính xác cao nhất. Yếu tố trọng yếu mà các kĩ sư muốn đề cập tới ở đây là những tần số trung tâm điều khiển tone, độ mạnh và độ rộng của của quá trình cắt/nâng các tần số nhất định được phân tích vô cùng tỉ mỉ, thêm nữa là toàn bộ các thành phần độc đáo của gear. Không chỉ có vậy, những amp và FX cổ điển có mạch điện mang tính tương tác rất cao. Họ nghiên cứu cực kì kĩ lưỡng những thay đổi có thể ảnh hưởng tới các nút khác khi vặn 1 nút nào đó. Tất cả những nỗ lực đó nằm mang lại những model giả lập sao cho giống với bộ sưu tầm của họ nhất. Kết quả là những đứa con tinh thần/vật chất POD, PODxt… cứ nối đuôi nhau ra đời.

A.I.R Technology – Điều kì diệu trong hạt đậu nhỏ.

Bí quyết tối thượng của Line6 cho đến thời điểm này chính là công nghệ A.I.R™ Modeling (acoustically intergrated recording) giúp thiết bị của hãng giả lập 1 cách chính xác âm sắc, tương tác của Speaker Cabinet, Microphone và đặc tính âm học của căn phòng đặt Cabinet trong quá trình thu âm. Kết quả là âm thanh cho ra nghe không thua gì âm thanh từ 1 chiếc Amp hay, được thu tín hiệu bằng 1 micro rất ngon bởi 1 kĩ sư giỏi trong 1 phòng thu xịn! Các bạn nên chú ý: từ việc có 1 cái amp thật đến việc đặt mic thu âm rồi đưa vào máy tính không hề đơn giản. Amp xịn mà k biết cách đặt mic thì cũng như không.

Figure 1 - Miking 1 Guitar Amp - 1 công việc k hề đơn giản!

Ngõ xuất tiếng trực tiếp của rất nhiều Pre-Amp, Amplifier và DirectBox dạng thay thế amp (Sansamp GT2 là 1 ví dụ điển hình) có sẵn hiện nay chỉ cung cấp 1 số dạng rất hạn chế của chức năng giả lập cabinet hoặc speaker. Chúng hầu như chỉ được đưa ra dưới dạng loại bỏ đi những tần số cao 1 cách đơn giản hoặc không hề có tùy chọn gì.

Ví dụ: SansAmp GT2 cho âm thanh PreAmp rất hay nhưng chức năng Cabinet Simulator thì lại rất tệ và k hề có option nào để remove nó đi cả. Và khi các bạn cắm Sansamp GT2 vào amp có nghĩa là các bạn đã đưa tín hiệu guitar vào 1 chuỗi xử lý gọi là (OverProcessed): Guitar -> preAmp -> Cabinet (giả lập của GT2) -> Mic (giả lập của GT2) -> PreAmp (amp của bạn, vd: JCM800) -> PowerAmp -> Cabinet (của JCM800) -> Mic -> PreAmp soundcard hoặc Mixer P.A. Nếu cắm vào ngõ của FX Loop và bỏ qua PreAmp của JCM800 thì bạn vẫn đưa tín hiệu qua 2 LẦN MIKING! Pre-Amp1 -> Cab1 -> Mic1 -> Power 2-> Cab2 -> Mic2. Tín hiệu dạng như vậy k thể chấp nhận để recording dù nghe ngoài có vẻ rất bùi tai. Rất xin lỗi các fan của SansAmp, nhưng đó là sự thật.

Những công cụ giả lập cabinet thông thường không thể tái hiện lại những chi tiết khác biệt của loại gỗ, củ loa và các chi tiết khác của 1 Cabinet thực. Một số thiết bị khác lại thất bại khi không thể giả lập được âm sắc của những chiếc Microphone khác nhau và sự thay đổi qua các vị trí đặt khác nhau. Và không có 1 thiết bị nào có thể tái tạo lại mặt âm học của CĂN PHÒNG đặt Cabinet để thu âm đó.

Những thiết bị dạng này đều cho ra những kết quả đáng thất vọng dù tone cơ bản khi xuất từ preamp của chúng rất khá. Thất bại trong việc tái tạo âm sắc của Cabinet, Mic và không gian phòng thu đồng nghĩa với việc tạo ra 1 thứ âm thanh thiếu sức sống. Nếu bạn thay đổi cỡ dây, ví dụ gấp đôi cỡ hiện tại chẳng hạn rồi cắm qua các thiết bị đó, âm thanh sẽ thực sự trở nên Lifeless.

POD XT là sự kết hợp của Amp Modeling và công nghệ A.I.R mang lại âm thanh trực tiếp cho thu âm (DIRECT TONE – khái niệm này k bao giờ có với các loại phơ cục như MetalZone, MetalCore, Tubeman, HotBritish, TubeKing…) bằng cách tái tạo lại tất cả các yếu tố hình thành nên 1 track guitar hoàn hảo và mang lại cảm giác như chơi qua 1 guitar amp thật được nối với Cabinet và Miking bởi 1 kĩ sư hàng hiệu :> :

- Amp Model được giả lập dựa trên sự mô phỏng chính xác mạch điện thật.

- Trong 1 Guitar Amp, tín hiệu được truyền qua các linh kiện điện tử, xuất ra 1 hoặc nhiều speaker trong Cabinet. Cách thiết kế của các speaker, có bao nhiêu speaker trong cabinet, chúng được sắp xếp như thế nào, kết cấu và loại gỗ ảnh hưởng lớn tới guitar tone của bạn. 1 cái Head Marshall nối với 1 cabinet dạng Open Back (đằng sau cabinet k đóng kín) có 1 speaker cỡ 12 inch sẽ cho âm thanh khác hoàn toàn so với cùng cái head đó nối với 1 cabinet ClosedBack (phía sau đóng kín) cỡ 4×12. Line6 đã nghiên cứu cẩn thận và giả lập lại toàn bộ trong môi trường 100% digital cho ra kết quả quá đáng tự hào so với các hãng cạnh tranh khác như Digitech và Boss (cái này thì cãi đi đâu được, thử chức năng đó của GT10 và GNX4 đi ).

- Sau khi tín hiệu âm thanh du ngoạn qua Speaker của Cabinet và được tái hiện ở đó, 1 thiết bị quan trọng trong quá trình thu âm sẽ tiếp nhận nó đó là Microphone. Mỗi 1 loại Microphone, đặt ở 1 vị trí khác nhau, với 1 góc độ khác nhau sẽ cho ra âm thanh bố của khác nhau. Đặt ở giữa tâm của củ loa và thẳng góc 90 độ sẽ cho âm thanh khác hẳn với khi đặt ở góc giữa các loa trong 1 cabinet. Line6 đã phân tích âm thanh được nhuộm màu ra sao với mỗi sự thay đổi đó và nhét cho hạt đậu thần thêm căng tròn và mũm mĩm :”> .

- Guitar Amp, Cabinet và Microphone trong thực tế không được đặt ở 1 khoảng không trống rỗng (như thế thì làm j có âm thanh =.= ). Căn phòng đặt Cabinet ảnh hưởng lớn tới âm thanh thu được sau quá trình Miking. Âm thanh phát ra từ cabinet dội lại từ sàn nhà, nóc nhà, tường, vật dụng trong phòng… được giả lập bằng Reverb. Ví dụ: tiếng guitar được miking trong 1 căn phòng dạng BedRoom của HomeStudio không có các tấm cách âm gắn trên tường thường có cường độ rất cao ở tần số từ 100-150hz — cái này nằm trong vùng được gọi là um đây =.= Nhưng có 1 chi tiết nhỏ mà cực quan trọng đó chính là cách âm thanh di chuyển qua không khí từ màng loa đến microphone (khái niệm này gọi là Spead). Yếu tố này tạo ra sự khác biệt giữa vị trí của người đặt mic/guitarist trong căn phòng đó và âm thanh được record lại.

Tất cả các yếu tố quan trọng này đều được tái hiện chính xác trong hạt đậu thần nhỏ bé. Điều bạn cần làm chỉ đơn giản là chọn lấy 1 amp, Line6 sẽ tự chọn cabinet và mic phù hợp nhất với nó. Tweak (căn chỉnh) 1 chút nữa là có ngay 1 tone sẵn sàng để record rồi .

1.1.1. POD Family

Theo như những gì bổn hãng Line6 mô tả và đồng thời cũng được cả thế giới chấp nhận (k biết có quá lời k :”>), POD Family ra đời đã làm nên một cuộc cách mạng công nghệ thu âm mà không cần đến những hệ thống thiết bị lằng nhằng và phức tạp. Với bất cứ bạn POD nào trong tay đều đồng nghĩa với việc bạn đang “sở hữu” hàng đống Bass/Guitar Amplifier, Cabinet, Sound Effect huyền thoại mà không cần phải đục két sắt hay cướp ngân hàng. Cầm guitar lên, cắm vào POD, nối ra PA System (những hệ thống âm thanh lớn phục vụ cho nhiều người) hoặc Amplifier và thưởng thức!

Figure 2 - Quả bom tấn hình hạt đậu!

Vào thời điểm rối ren loạn lạc khi thế giới chuẩn bị bước sang kỉ nguyên mới, Line6, 1 hãng điện tử non trẻ đã thả 1 quả bom tấn vào làng giải trí và công nghệ thu âm với khái niệm: Direct Recording . K Cần phải lấy mic thu lại tín hiệu từ cabinet, vòng vèo qua hệ thống Effect lằng nhằng rồi vào preamp -> DAW… Chuỗi tín hiệu được rút ngắn lại chỉ còn guitar -> POD -> DAW (Digital Audio WorkStation – 1 hệ thống sử dụng kết hợp cả phần cứng và phần mềm để “điều chế nhạc”) với chất lượng (so với giá tiền) làm kinh ngạc cả những sound engineer khó tính nhất. Nhưng sự thực, “quả bom” ý chỉ nặng vẻn vẹn có 5 lạng với cái tên POD 2.0 (hiện tại tớ chưa tìm được thông tin về POD 1.0 (không biết nó có … tồn tại hay k nữa :”>) nên tạm thời coi POD 2.0 là sản phẩm đầu tiên trong POD Family) và có hình hạt đậu – nhìn rất KUTO. Như 1 hệ quả tất yếu, Line6 liên tục giành được vô số các giải thưởng danh giá về âm thanh của các tạp chí hàng đầu thế giới. Điển hình:

- “Sản phẩm số 1 trong vòng 10 năm trở lại đây! Thật là vãi lìn!” – Total Guitar.

- Giải thưởng “Editors’ Pick”.

- Giải thưởng của Key Buy 1999.

- Sản phẩm số 1 trong top ten 2000.

- Giải thưởng Cách tân Công nghệ 1999

- Giải thưởng của TEC

- Giải thưởng của tạp chí âm nhạc quốc tế Musikmesse 2000.

Liệu bấy nhiêu đó đã đủ để thuyết phục bạn chú ý hơn tới hãng điện tử số 1 này chưa?

Từ khi khởi đầu với POD2.0, hiện POD Family đã có tổng cộng 11 sản phẩm cho guitar và 4 sản phẩm cho bass được chia làm 3 loại: Mobile, Studio và Live.

Danh sách:

- Mobile: Pocket POD Express, Pocket POD

- Studio: POD2.0, PODxt, PODxt Pro, PODX3, PODX3 Pro

- Live: FloorPOD, FloorPOD Plus, PODxt Live, PODX3 Live

Figure 3 - Mơ ước của các Metal Guitarist! Đối thủ bất khả bại của Boss, Digitech

Sản phẩm mới nhất trong POD Family hiện tại là POD X3 Pro với đặc tính đã nổi đình nổi đám từ Vetta II series đó là Dual Tone – giúp người chơi có được âm thanh như chơi bằng 2 rig cùng 1 lúc. Và thêm nữa series X3 này có thêm 1 Input nữa dưới dạng XLR Mic input và FX Loop (có giá trị hơn kiểu Loop của Boss GTx rất nhiều), ở X3 Pro thì có 2 input cho guitar, 2 input cho mic. Danh sách các thiết bị giả lập được bổ sung thêm 1 số Mic PreAmp nổi tiếng cho Vocal, và 2 mic nữa. Quan trọng nhất là sự cải thiện về chất lượng âm thanh ở 1 số amp, điển hình là Soldano SLO 100. Về khía cạnh recording, ở series X3 cho phép thu đa kênh và sử dụng giao tiếp USB 2.0 với tốc độ nhanh hơn.

Figure 4 - RackMount quen thuộc của các Studio

Về thiết kế sản phẩm, ai có thể địch lại Line6? Không chỉ là những kĩ sư vi tính, điện tử, âm thanh. Họ còn là những nghệ sĩ và rocker thực thụ. Các sản phẩm nếu k mang 1 phong cách dễ thương/nhí nhảnh (POD xt, Pocket POD) thì lại vô cùng trâu bò và hầm hố (PODxt, POD X3, POD X3 Pro, TonePort UX8). Thỏa mãn từ nghe đến nhìn, liệu bạn còn mong chờ gì hơn?

Không ai có thể phụ nhận mức độ phổ biến của POD Family trong các Pro Studio/Home Studio và Live Show ở trên thế giới. Các diễn đàn âm nhạc, studio, user community của các sản phẩm không liên quan đến guitar (ví dụ: Toontrack – Drum Synthesizer) cũng liên tục thấy POD trong danh sách các thiết bị thu âm của member.

Hiện tại ở Việt Nam, Line6 FC cũng đã được thành lập. Dù chưa lâu nhưng cộng đồng Line6 ở Việt Nam cũng đã có những bước khởi đầu rất ấn tượng với hàng loạt demo được đưa lên diễn đàn aeguitar.org và các bản thu âm chuyên nghiệp khác. Như là 1 kết quả tất yếu, chất lượng của POD Family so với giá tiền đã mê hoặc các rocker Việt Nam một cách nhanh chóng. Line6 FC đang ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt và ngày càng có nhiều Hardcore Fan .

1.2. Installation

Chưa có 1 hãng nào có loạt sản phẩm về guitar mà lại thân thiện với máy tính như Line6. Tất cả các thao tác căn chỉnh, thu âm, cập nhật, nâng cấp đều được thực hiện trên giao diện phần mềm hết sức trực quan và dễ dàng – IN YOUR FACE. :> Điều này là ước mơ với rất nhiều đối thủ cạnh tranh như Boss GT, Digitech và V-Amp (Pé Nu nhở :-“). Như đã giới thiệu ở trên, sau khi cài đặt POD vào máy tính, bạn có thể căn chỉnh, trao đổi tone với user community cực mạnh của Line6, cập nhật driver/firmware, nâng cấp/mua thêm/chuyển đổi các gói phần mềm hoặc thậm chí thay đổi cả model sản phẩm như Vetta I -> Vetta II! Vãi lìn!!!

Figure 5 – Cái gì có thể đánh bại được giao diện này?

1.2.1. Cài đặt Driver.

Công đoạn này đã quá quen thuộc với anh em hay tí toáy máy tính. Driver là 1 phần mềm giúp cho máy tính nhận biết được thiết bị và điều khiển các chức năng của nó. Công cụ sẽ đi với các Line6 Fan từ đầu đến cuối phần này là Line6 Monkey (theo cách lý giải của anh Phương: đến khỉ cũng làm được thì người chả lẽ không? ). Phần mềm Line6 Monkey có giao diện rất đơn giản, nó sẽ giúp các bạn: Kiểm tra/cập nhật driver/usb driver/firmware mới nhất cho thiết bị, thông cáo các gói phần mềm cập nhật/thương mại mà chú POD của bạn có). Việc cần làm của bạn bây giờ là ngay lập tức lên website của Line6 tạo 1 account nếu chưa có, download Line6 Monkey hoặc GearBox với hệ điều hành tương ứng. Việc chạy và cài

Download Line6 Monkey và các phần mềm của Line6 tại: http://line6.com/software/index.html

Figure 6 - Với Line6 Monkey, mọi thứ đã trở nên rất đơn giản và tiện lợi.

Những phần mềm nào chưa được Up-To-Date trong hệ thống của bạn sẽ được đánh dấu cảnh báo màu vàng có chấm than. Việc cập nhật cực đơn giản, click chọn phần mềm đó, liếc sang phải, ấn Update Selection và… ngồi đợi nó download sau đó làm theo hướng dẫn trên màn hình. Chú ý, khi thực hiện những công việc này, bạn nên nối POD vào với máy tính để kết quả kiểm tra mục USB Firmware, Flash Memory và các Add-ons cài thêm được chính xác (trừ quá trình cài driver – bạn phải disconnected PODxt với máy tính, sau khi cài xong thì mới được connect trở lại).

1.2.2. Cài đặt phần mềm quản lý POD.

Khái niệm phần mềm quản lý POD được đưa ra ở đây bao gồm chỉnh sửa tone (online/offline), sắp xếp các tone trong bộ nhớ của POD và máy tính, sao lưu/phục hồi hàng loạt (cái này có thể làm trên L6 Monkey). Line6 cung cấp 2 công cụ có tính năng tương đương đó là GearBox và Line6 Edit. Hiện chỉ có GearBox bản mới 3.7 có hỗ trợ Dual-Tone.

Sự khác biệt giữa Gearbox và Line6 Edit: GearBox là 1 giải pháp tổng thể ôm đồm tất cả mọi thứ từ Driver của các thiết bị Line6, Driver, Line6 Monkey, Control Panel, kết nối với GuitarPort Online, Backing track player đến Metronome +_+. Line6 Edit chỉ đơn thuần là 1 chương trình chỉnh sửa, quản lý tone. Nhưng có 1 vấn đề to đùng là 1 số tone tạo ra từ 2 cht này mà tại hạ có k hiểu được trong cht kia Có lẽ sau khi update bản Gearbox mới nhất sẽ thử lại xem sao (cái này phải lên trường down thôi, down ở nhà có mà bán thận đi trả tiền nét T_T). Cá nhân tôi thích Line6 Edit hơn vì trong chế độ Offline, GearBox không thể sử dụng các Amp/FX có trong các Model Packs (chán chưa =.=).

Figure 7- Gearbox 3.6 tỏa sáng bên Leah Dizon

Figure 8 - Line6 Edit. Simple & Sexy

Với những chương trình này, việc chỉnh sửa, lưu, trao đổi tone trở nên quá đơn giản nên tớ dừng ở đây. Dánh sức cho những phần rất hấp dẫn phía sau.

1.3. Recording

Đây chắc chắn là 1 trong những phần hấp dẫn và mong chờ nhất của Line6 User. Với PODxt trở lên, anh em đã làm quen với khái niệm USB Direct Recording. Không cần biết soundcard bạn đang dùng là gì, chỉ cần nối POD với PC/Laptop qua cổng USB, ấn nút, record, bạn đã có ngay 1 track guitar với chất lượng tuyệt vời. Tín hiệu sạch sẽ và mạnh mẽ. Và trong phần này, tôi CHỈ nói về USB Direct Recording.

Line6 cho phép ae thu âm 1 cách cực kì đơn giản với rất nhiều tùy chọn. Trước khi bắt đầu thu âm, chúng ta liếc qua Line6 Control Panel 1 tí đã. Cái này rất quan trọng (Vào Control Panel -> Line6 Audio/MIDI Devices).

Figure 9 - Line6 Control Panel. Đơn giản với rất nhiều tùy chọn.

Có 2 mục cần lưu ý: Driver Format và ASIO Settings.

a) Driver Format:

- Default Sample Rate: Cái này quy định tần số lấy mẫu của âm thanh, giá trị này cao chưa hẳn chất lượng âm thanh đã cao hơn (cái này tớ mới đọc được 1 tài liệu so sánh giữa 44100 Hz và 96000 Hz nên sẽ giải thích sau – đại để là sự khác biệt âm thanh mang lại giữa 2 mức lấy mẫu âm thanh này lại k hề nằm ở con số kia mà chính là ở Filter của thiết bị, cái này do 1 Mastering Engineer rất nổi tiếng so sánh nên khỏi nghĩ về độ tin cậy, trừ khi bạn cho rằng bạn giỏi hơn anh ý :-“). Với PODxt thì có 2 lựa chọn 44100 và 48000. Dòng Pro thì có thêm 92000Hz Nếu máy tính của bạn thuộc loại trâu chó, CPU khỏe như lực sĩ và đĩa cứng rộng mênh mông thì cứ việc chọn con số cao hơn. Nhưng với nhu cầu thu âm thông thường và export ra bản Final Mixdown cho Mastering Engineer thì 44100 Hz là đủ. (Project Settings của Cubase SX dành cho Mastering cũng chỉ ở mức 24bit 44100Hz thôi ).

- Default Bit Depth: Con số này hiểu nôm na là ĐỘ PHÂN GIẢI CỦA ÂM THANH. Ở phạm vi Audio, nó có nghĩa là số bit được dùng để ghi lại 1 sample, cái này chỉ có ở âm thanh kĩ thuật số. Khái niệm này còn được mô tả bởi từ Word Length. Con số này càng to thì khả năng tái hiện âm thanh Digital càng chính xác. Ae cứ tưởng tượng tín hiệu Analog nó là 1 hình sin liên tục, tín hiệu digital là 1 loạt các đoạn thẳng nối với nhau để mô phỏng lại hình sin đó. Độ dài các đoạn thẳng càng nhỏ thì việc mô phỏng càng chính xác tương ứng với số lượng các đoạn thẳng càng phải nhiều hơn. Khi thu âm, hãy chọn Bit Depth cao nhất có thể, thông thường là 24bit. Ae k nên nhầm lẫn 24bit Depth với 32bit Floating processing (PODxt trở lên). 32Bit kia là môi trường tính toán, nó tương tự như Windows 32bit vậy. Nếu máy tính k cho phép, ta vẫn có thể chọn 16bit để thu âm. Chẳng có gì là lo lắng quá vì Bit depth của CD là cũng chỉ 16, còn DVD là 24. Có 1 số bác cứ mở mồm ra là nào là Digital k bao giờ thay thế được Analog hoặc Digital k bao giờ bằng được Analog thế lọ thế chai, thử hỏi các bác đang nghe CD hay đĩa than? =.= Rồi các bác phân biệt được sự khác biệt giữa Digital signal được mã hóa 16 bit ở Sample rate 44100 Hz (44100 sample trên 1 giây, mỗi sample ”nặng” 16 bit) với tín hiệu analog thật của cùng 1 nguồn audio? Trong 1 tài liệu tôi đọc được khi lang thang trên web từ khá lâu, nói về 1 triển lãm công nghệ âm thanh, tiêu điểm là 1 thiết bị Digital có bộ A/D và D/A Converter mới nhất hiện nay. Tester là các sound engineer hàng đầu. Sử dụng cùng 1 nguồn âm thanh và kết quả gộp chung lại thành 1 câu đơn giản:”Âm thanh xuất ra từ bộ DAC này còn “analog” hơn cả tín hiệu analog thật!. Hiện tại tôi có sưu tầm được trong tay 2 Blind test: 1 là Analog vs. Digital (1000 ng trả lời trong đó 1,2% đoán trúng – và đa số là may mắn); 1 là High Sample Rate War (hiện có khoảng 190 người trả lời Blind Test này và chưa ai trả lời đúng), nếu các bạn muốn thử sức tôi sẽ post lên đây. Chúng ta cần phải có những bằng chứng và hành động rõ rệt chứ k chỉ ngồi 1 góc zời mà phán chuyện Trái Đất. Vì phạm vi bài viết chỉ mang tính giới thiệu nên tớ k đi sâu về mảng này nữa.


Figure 10 - Analog signal (xám) Vs. Digital signal (đỏ)

b) ASIO Settings: Mục này quy định độ sâu của âm thanh sử dụng với Driver ASIO của POD. Bạn nên đặt tham số này trùng với Driver Format ở mục Bit Depth để tránh lãng phí sức mạnh xử lý của CPU mà âm thanh chả có j thay đổi cả (Driver thì 16 bit, vậy để ASIO 24 bít mà làm rì =.=). Còn Default Buffer Size thì quy định kích cỡ bộ nhớ đệm dùng để stream âm thanh của ASIO Driver. Bộ đệm càng lớn thì càng giảm tải cho CPU nhưng lại tăng độ trễ (Latency – Khoảng thời gian từ lúc triển khai lệnh, âm thanh được xử lý rồi tới Output. K có cái j gọi là Zero Latency hoặc Latency Free ở 1 hệ thống Digital!).

Mục USB Audio Streaming thì có ý nghĩa tương tự ASIO Buffer Size. Chúng ta có thể để mặc định cũng được, nhưng nếu thấy máy giật giật hoặc tín hiệu bị Drop thì phải tăng giá trị này lên tới khi hết thì thôi. Tuy nhiên chắc k cần hỏi các ae cũng đang thắc mắc: nhỡ Latency cao quá ảnh hưởng tới quá trình thu âm (lệch nhịp vì bị trễ âm thanh chẳng hạn) của tôi thì sao? Các thiết bị DAW và phần mềm DAW thế hệ mới hầu hết có kèm theo chức năng Latency Compensation (tạm dịch là: bù trừ độ trễ). Nó có khả năng tính toán tổng Latency sinh ra do các thiết bị, Plugin được sử dụng và thời gian trễ khi nhận tín hiệu audio đang được record và “xô” (từ lóng trong giới thu âm chỉ việc di chuyển 1 đoạn của 1 track nào đó cho đúng nhịp hoặc đúng ý đồ của mixer) tín hiệu audio đến vị trí như k hề tồn tại Latency.

Figure 11 - Signal Routing

Signal Rounting trong PODxt

Cụm từ Signal Routing ở đây được hiểu theo nghĩa đường đi của tín hiệu qua các thiết bị. Ở trên hình 11, tín hiệu guitar được chia ra làm 2: 1 truyền thẳng tín hiệu bypass (clean/unprocessed) cho máy tính, 1 truyển cho hệ thống giả lập xử lý âm thanh của POD, và cuối cùng âm thanh từ máy tính và âm thanh được xử lý của POD cùng chuyển qua output của POD.

Lần này chúng ta lại tiếp tục làm quen với 1 khái niệm nữa: Re-Amping. Chắc hẳn các anh em đã đều rất cay cú khi nghe lại 1 bản thu nào đó của mình và nghĩ:”DCM, cái bản mình đánh còn hay hơn cả Yến Vi béo mà âm thanh thì như lìn! Giá mà hồi đó k căn phơ ngu như thế! “. Nay với Line6 POD Family, không bao giờ chúng ta phải than vãn đầy tiếc nuối như thế nữa. Chỉ việc thu tín hiệu bypass, sau đó dùng POD để xử lý tín hiệu này rồi record lại sau khi đã thỏa mãn với tiếng mình căn. Mọi việc sẽ đơn giản hơn nếu có GearBox hoặc mới đây nhất là POD Farm (nói ở phần sau).

Tiến hành thu âm

Các kiến thức cơ bản để setup rồi thu âm cho POD đã ổn, giờ chúng ta bắt đầu tiến hành ngay thôi. Phần mềm được sử dụng trong bài là Cubase SX3 (Nudendo thì y hệt còn các phần mềm khác như Sonar, ProTools, Adobe Audition, Reaper… thì k khác nhiều). Các bước làm tuần tự như sau:

1. Nối POD vào máy tính (tất nhiên rồi ).

2. Mở Cubase lên, vào menu Devices chọn Device Setup.

3. Ở mục VST Audiobay, chỗ Master ASIO Driver, chọn Line6 PODxt à OK. Có 1 phương pháp khác đó là sử dụng driver của ASIO4ALL (cách này của nghesi82) download tại http://www.asio4all.com/. Sau khi download về và cài đặt ASIO4ALL đầy đủ, nối POD vào máy tính, mở ASIO4ALL Offline Settings, click Disable các đường out/in bất kì trừ Out/In của POD. Sử dụng phương pháp này thì độ trễ giảm đi đáng kể và tránh được tình trạng Audio drop out của X3 Series.

4. Trở lại cửa sổ Cubase SX3, Track nào muốn record từ POD thì chọn Record Enable (nút tròn màu đỏ ở dưới tên track), ấn nút Record màu đỏ trên thanh Transport Bar để tiến hành thu âm.

1.4. Tweaking Sounds

Phần này sẽ k nói cụ thể ae phải căn phơ ra sao, nó k phải là 1 cuốn hướng dẫn sử dụng. Tôi chỉ dựa vào kinh nghiệm của mình có được sau 1 thời gian mày mò với POD và chia sẻ. Tôi sẽ không hướng dẫn các bạn nhái tone của artist nào vì đó là điều k thể khi nghe 1 mình. Tone của họ sau khi qua 1 loạt rack riếc loạn xạ sau đó đưa vào studio còn được các sound engineer gọt dũa, polish bét nhè mới được như thế. Vì thế giống 80% khi nghe 1 mình có nghĩa là: Bạn đã nhái thành công!

Để có được tiếng guitar hay thì phải bắt nguồn từ 1 nhạc cụ tốt! Electric Guitar cũng là 1 nhạc cụ acoustic. Vì thế nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm âm học như Acoustic Guitar. Điều đó có nghĩa là gì? Là âm thanh acoustic của nó cũng có thể phản ánh âm thanh sau khi distort! 1 cây guitar k hay thì k bao giờ cho ra được âm thanh distortion Exellent được mà chỉ dừng lại ở Great. Bob Dylan khi mua EG còn quạt chả đúng vài phát rồi lấy luôn chứ k cần cắm vào amp lùa loạn xạ như 1 số ng mình đã thấy. 1 cây EG hay phải đảm bảo được các yếu tố sau khi nghe mộc: độ ngân tốt, tiếng rõ ràng và đầy đặn. Việc thay pickup cũng có thể cải thiện được phần nào tiếng guitar nhưng đó k phải là 1 giải pháp tốt nhất. Nếu bạn có điều kiện, hãy mua 1 cây guitar thật tốt ngay từ ban đầu! Nó k chỉ có âm thanh tốt mà thiết kế của những cây guitar đó giúp bạn cảm thấy việc chơi đàn trở nên dễ dàng hơn.

Theo định nghĩa từ cuốn Getting Great Guitar Sound, 1 tone hay là 1 tone có thể kiểm soát được (nghe distortion tone từ đầu đến cuối bài Empty Room của Gary Moore)! “Tone hay” là 1 cụm từ rất nhạy cảm. Nhưng dù có nhạy cảm đến mấy nó vẫn có các “quy tắc” chung (trừ khi mình cố tình tạo ra cái tone phá vỡ các “quy tắc” đó). Vậy rốt cục các “quy tắc” thông thường đó là gì?

- Dynamic: nghe thì có vẻ khó hiểu đấy, thực chất nó k có gì khác ngoài sự khác biệt về độ lớn của tín hiệu khi bạn pick mạnh và pick nhẹ. Dynamic này được quyết định bởi: chính bạn (tất nhiên), guitar amp, compressor. Độ Dynamic càng thấp thì tiếng guitar càng tàn bạo nhưng lại mất đi cái gọi là Expression (bạn có thể thể hiện được rất nhiều trạng thái tình cảm chỉ với việc điều khiển đôi tay pick mạnh hay nhẹ). Guitar Amp thì có 2 yếu tố: chính đặc điểm của kênh đang sử dụng trên amp đó và gain level. Càng high gain thì tiếng càng bị nén và nát (nhưng các bạn chú ý: “nát” kiểu tube amp nó khác với nát kiểu Zoom, ví dụ có ai bảo tiếng guitar trong Master of Puppets k “nát”?).

- Độ ngân (Sustain): cái này phụ thuộc rất nhiều vào độ ngân tự nhiên của đàn, action và setting trên amp/fx. Amp càng high gain và FX xử lý Dynamic càng thấp thì tiếng càng ngân lâu kèm theo dynamic giảm dần.

- Độ rõ ràng (Độ rõ ràng): guitar là 1 nhạc cụ có vai trò tải dải mid trong tổng thể âm thanh của 1 bản thu. Khi chơi metal thì người ta thường cắt bớt mid đi để tiếng guitar thêm nặng nhưng phải cân bằng với các nhạc cụ khác. Nếu quá tay thì sẽ không còn nghe thấy gì nữa. 1 số các band nhạc lại căn tiếng sao cho nó… k còn là tiếng guitar nữa, nghe rất tàn khốc như Meshugah chẳng hạn.

+ Dải mid và low-mid quyết định phần lớn độ dày của tiếng guitar nhưng nhiều quá thì lại làm tiếng bị đục.

+ Dải treble và presence giúp guitar nghe sáng và nổi hơn nhưng nhiều quá thì lại bị mỏng.

Ở các record thời xưa, tầm từ 80s đổ lại thì tiếng guitar có đặc điểm rất nhiều mid (Judas là 1 ví dụ tiêu biểu). Tất nhiên nó tùy từng dòng nhạc nữa bởi vì thời đó Metallica cũng đã bắt đầu đưa ra những album đầu tiên với scooped mid (cắt rất nhiều mid) guitar tone bởi Mesa Boogie Amplifier. Nhưng kết hợp với tiếng guitar bị cắt mid như thế thì guitar bass lại phải bù mid vào và giảm bass đi. Vì thế, tôi muốn các bạn hiểu rằng: để có được tiếng guitar hay mà k bị chôn vùi bởi các nhạc cụ khác thì chúng ta phải bỏ ra vài chầu café Capuccino mời thằng Bass, thằng Keyboard nữa T_T

Để tạo ra 1 tiếng guitar hay, phù hợp với dòng nhạc/bài nhạc/thậm chí đoạn nhạc mình chơi thì đó là kết quả của cái gọi là “nghệ thuật cân bằng”. Cân bằng giữa Dynamic (Power/sức mạnh), Sustain (độ ngân), Clarity (độ rõ ràng), giữa các nhạc cụ khác và với cảm xúc mà bản nhạc/đoạn nhạc bạn đang căn tiếng cho.

Những hướng dẫn trên có thể áp dụng cho mọi trường hợp khi bạn căn tiếng bất kể dùng phơ cục, amp hay đơn giản chỉ với POD và 1 cái headphone!

Những yếu tố then chốt quyết định chất lượng của 1 tiếng guitar ngon!

- Guitar Player: Hơi buồn 1 chút vì … đây là yếu tố hàng đầu! Tone is in Fingers!

- Guitar: bản thân cây guitar chỉ đứng sau Guitar Player! It’s the Soul of Tone!

- Amplifier: khỏi cần nói nó quan trọng như thế nào. Amp và A.I.R Modeling chính là điểm khác biệt lớn nhất giúp Line6 đè chết bất cứ 1 hãng sản xuất phơ bàn giả lập nào! (Mie, Line6 mà k bonus mình 1 con X3 thì đúng là trời k có mắt! =.=). Các bạn nên nhớ 1 điều, POD giả lập mic với những vị trí cố định nếu xét theo hình chiếu ngang theo hướng nhìn trực diện vào amp, chỉ khác nhau về độ xa gần trong cùng 1 Mik setting và âm thanh cho ra ở Studio Mode là âm thanh đã được Mik với vị trí đã mik chứ k phải như âm thanh các bạn nghe bt khi đánh với amp đó, do đó mọi sự so sánh đều là khập khiễng!

- Cabinet (bao gồm cả thùng loa và speaker nói chung): Cabinet shapes your sound. Câu nói này đủ để khẳng định tầm quan trọng của Cabinet với tiếng guitar của bạn.

- Microphone: Khi công đoạn căn chỉnh tiếng đã gần đến hồi kết thúc, nếu chúng ta thay đổi mic selection, thì gần như đồng nghĩa với việc phải căn lại tiếng từ đầu.

Amplifier, Cabinet và Microphone trong POD Family

1. Amplifier: Theo ý kiến cá nhân của tôi sau 1 thời gian tương đối (khoảng hơn 2 năm) miệt mài và đam mê với POD, 1 số amp sau đây cho âm thanh rất tốt kèm theo 1 số demo do chính tớ làm và có thể bắt đầu ngâm kíu từ đó (tớ chơi Metal là chính nên trong danh sách Best Amp Collection dưới dây có thể hơi thiên vị 1 chút :”>):

- Diamond Plate - Mesa Triple Recto: tiếng hạt to và smooth.

- Treaplate Dual – Mesa Dual Recto: khó căn hơn Diamond Plate nhưng căn cẩn thận thì âm thanh cho ra khá ấn tượng.

Sample:

https://dl.getdropbox.com/u/355650/DualRecto-01.mp3

- Solo 100 - Soldano SLO 100 Superlead Overdrive: Âm thanh Overdrive của SLO100 quả thực rất thuyết phục. Nghe rất tự nhiên và mượt. Gần như không bị nén (tương tự model JMP1- Marshall JMP-1 của Iron Maiden). Theo 1 số ý kiến thì Model này trên X3 cho âm thanh ngon hơn XT, tớ chưa nghe nó trên X3 nên im mõm k phán xét =.= Ngoài ra Line6 còn giả lập 1 model khác của Soldano đó là SP88 với tên Modern Hi-Gain.

Sample: https://dl.getdropbox.com/u/355650/f…ing%20tone.mp3

https://dl.getdropbox.com/u/355650/T…%20S470-01.mp3

- Ms Criminal 2001 - Peavey 5150 MKII: hợp nhất cho rhythm guitar. Ai yêu thích InFlames thì có thể thử với Peavey 5150II (tất nhiên đàn đóm phải chơi C tunning) sẽ thấy rất nhiều điều kì diệu Tuy nhiên trên YouTube có 1 hảo thủ tên là schef - big fan của In Flames - căn tiếng bằng Line6 Lunatic nghe cũng vãi linh hồn - gần như y hệt!!

Sample: https://dl.getdropbox.com/u/355650/inflames%2006-28.mp3

- Bomber X-TC - Bogner Ecstasy: âm thanh rất tối nhưng khá lý tưởng với các Metallica fan.

- Deity’s Son - Diezel Herbert: còn j để nói đây =.= ! Model này cho âm thanh ít bị nén hơn Deity Lead (giả lập Diezel VH4), dùng để solo thì rất tuyệt. Giá… 4100$ nguyên cái head! Chán chưa!

- Angel P-Ball - ENGL Powerball: tiếng rất mềm và mượt, bass chắc. Nhưng kết hợp nó với TubeScreamer thì lại là 1 sai lầm lớn!

- Plexi Variax: tiếng chắc, ổn nhưng hơi mỏng. Ai thích Van Halen có thể bắt đầu căn chỉnh từ amp này.

- JCM800 - Marshall JCM800: con này thì đã quá nổi tiếng cùng Slash, RR, Zalk Wylde… Âm thanh giả lập của POD mang lại cái thô thô rất thực của amp thật (nghe qua các bài hát của Ozzy như Crazy Train, MrCrowley…).

Sample: https://dl.getdropbox.com/u/355650/J…0DualRecto.mp3 (lead guitar là JCM800 – bản thu này từ quá lâu rồi nên mong mọi ng tha thứ cho chất lượng âm thanh quá tệ )

- L6 Big Bottom – Lờ xích mông to: dân chơi metal k thể k sờ mó tới con này trong các Model của POD được. Tiếng cực dày, căng và tube!

Sample: https://dl.getdropbox.com/u/355650/T…y%20-%20V4.wav

- Blackface Lux - Blackface Fender® Twin Reverb®: căn tiếng clean bằng Amp này thì đừng hỏi.

- Match D-30 – Matchless Chieftain DC-30: Clean của con này có thể nói là số 1 trong số các amp Line6 giả lập.

- Jazz Clean - Roland JC-120: Ai thích clean ngọt ngào thì JC-120 là lựa chọn phù hợp.

- 1 số amp do chính Line6 làm cũng có âm thanh rất tốt: L6 Insane, L6 Spinal Puppets,

- Cali Crunch - Mesa/Boogie Mark IIc+: đặt TS7 trước chú này rồi căn Overture 1928 của Dream Theater, tone ơi chạy đi đâu!

- L6 Variax Acoustic: con dùng với cả đàn điện và đàn thùng đều ổn.

- 1 số model low/mid gain cho âm thanh thậm chí còn thuyết phục hơn: Marshall Superlead Variac, Double Show – Twin Reverb Deluxe, Hiwat DR-103, Vox AC30.

Sample cho 1 số amp clean: https://dl.getdropbox.com/u/355650/CleanGT-01.mp3 (Orange AC30, BlackFace, Matchless Chieftain).

2. Cabinet: một số cabinet tớ hay dùng

- 4×12 Treadplate: Mesa

- 4×12 V30: Marshall Cab, dùng speaker V30 của Celestion - solo thì dùng cab này tiếng rất chắc.

- 4×12 Green 25: Marshall Cab, dùng speaker Greenback 25W của Celestion - Mid rất dày.

- 4×12 Brit T75: Marshall Cab sử dụng Speaker T75 của Celestion cho âm hanh nghe rất modern.

- 4×12 Line6: Cab của bổn hãng, dùng Celestion V30.

- 2×12 Match: Matchless Chieftain Cab.

- 2×12 Blackface: 1965 Fender® Blackface.

3. Microphone: dưới đây là 4 mic của Line6 dành cho Guitar

- Shure SM57 on Axis: Hưởng thẳng vào tâm của speaker. Tiếng nhiều Mid, thô, sáng. Đây chính là con mic huyền thoại của dân guitar nói riêng và phòng thu nói chung. Rẻ, bền, đẹp với 99$!

- Shure SM57 off Axis: Hướng vào khoảng giữa các speaker, ví dụ 1 cabinet 4×12 có 4 speaker, thì vị trí này nằm ở giữa cả 4 speaker đó. Tiếng mềm hơn on axis, ít mid hơn, tối hơn.

- Sennheiser MD421: ít Mid nhất trong số các mic của Line6, bắt treble và bass rất tốt. Đây là mic có âm thanh unnatural (thiếu tự nhiên) nhất nhưng với Metal, thì đó lại là 1 ưu điểm trời cho của MD421. Tiếng rất căng, uy lực. Nhưng khi căn chỉnh phải rất cẩn thận kẻo vị um.

- Neuman U67: tiếng mượt nhất, con mic này k chơi với rhythm guitar. Với các lead guitarist thì nó lại là 1 báu vật khó có thể tách rời. Giá rất thảm khốc: 2299$ (musicianfriends.com).

Liệu Setup mic đã xong chưa? Èo, chưa đâu =.= Vẫn còn 1 yếu tố nữa là khoảng cách giữa mic và cabinet mà Line6 gọi là tham số Room. giá trị Room càng lớn thì khoảng cách càng xa tương ứng với âm thanh càng nhòe (hoặc mượt hơn) do mic bắt cả âm thanh dội lại trong phòng. Thử thay đổi giá trị Room từ 0-10%, cảm giác về frequency response sẽ khác khá nhiều (đặc biệt là bass range). Theo ý kiến tớ, trừ khi là chủ định, k nên để mic xa cabinet quá giá trị 30%.

Tips and Tricks

- Khi bắt đầu căn tiếng nên tắt hết mọi module, FX đi. Chỉ để amp và A.I.R không thôi. Sau đó căn đến khi ưng ý thì bắt đầu bật các module, compressor, EQ tùy ý. Quan trọng nhất là cái tone từ chính amp đi ra, còn EQ chỉ là điều chỉnh 1 chút thôi chứ k phải là cái đũa thần! Mọi thứ khác chỉ là cái trang trí thêm cho cái tone gốc của amp mà thôi!

- Khi căn tiếng clean hay acoustic, anh em hãy thử bỏ qua Cabinet (chọn No Cabinet) rồi nghe thử!

- Sử dụng Stompbox TubeScreamer để tránh bị um tiếng hay nói cách khác làm cho tiếng đàn khi palm mute nghe chặt hơn. Nhưng chú ý là k phải amp nào cũng kết hợp tốt với TS.

- Thêm Chorus vào tiếng Distortion hay OverDrive để có cảm giác căng và dày hơn. Lạm dụng quá sẽ nhận lấy hậu quả =.=

- Đôi khi thử đảo vị trí của Modules lên phía trước amp. Thậm chí delay và reverb có thể lôi lên trước cả Amp (k đùa tí nào)! Cái này đặc biệt thú vị cho các anh em nào thích hiệu ứng.

- Đặt Delay Time theo Tempo, khi solo, hầu như tiếng dội của Delay sẽ chìm vào quên lãng mà vẫn đảm bảo được không gian cho tiếng.

- Đôi khi hãy bỏ delay đi, sử dụng riêng reverb cho lead guitar.

- Chơi NuMetal thì nên biết đến Rotary Drums Effect.

1.5. Setting For Live Sounds

Có được Live Sound ngon là điều vô cùng khó vì hỡi ôi, cái bọn Mixer ở các show anh em mình hay chơi nó có đôi tai nghe nhạc tốt quá cơ! T_T Nhưng ở trong phạm vi bài viết tớ chỉ đề cập tới vấn đề từ phía cá nhân guitarist chứ k liên quan tới mấy thằng của nợ kia.

Khi diễn Live, điều đầu tiên anh em thắc mắc sau khi đánh thử đàn đó là: tại sao âm thanh này nghe dek giống cái mình căn ở nhà thế nhỉ? Sao nó mỏng dính hoặc chua loét thế kia???!! T_T Cái này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà 1 số cái sau là đáng nói nhất:

- Thiết bị căn tiếng ở nhà.

- Volume Level lúc căn.

- OUTPUT MODE của POD.

Giải quyết từng vấn đề 1 thì sẽ thấy vấn đề đơn giản hơn rất nhiều.

- Thiết bị căn tiếng ở nhà: 1 số anh em dùng Headphone, dàn Karaoke (tại hạ T_T), ai có điều kiện hơn thì chơi Guitar Amp. Âm thanh ở nhà và âm thanh sân khấu là 2 phương trời bố của khác biệt. Ở nhà, khi ta căn tiếng rhythm nghe hơi phừng phừng 1 tí, tưởng thế là hay, lên sk thì nó sẽ thành: ùng ùng ùng, uỳnh uỳnh và là nguyên nhân hàng đầu khiến cả band cứ mặc sức gào thét quay cuồng còn khán giả dek hiểu chúng nó đang làm cái j Ở nhà thì hầu hết chúng ta sử dụng thiết bị k phải pro, vì thế, tone đàn sẽ k được trung thực lắm. Ví dụ như với Karaoke Amp, sẽ thật sai lầm nếu căn tiếng khi mà LineOut của POD nối vào MicIn của Amp. Tiếng đàn chúng ta sẽ được Pre-Amp của những cái amp Karaoke đó nhuộm màu, làm trong và thiếu đi tính trung thực. Giải pháp cho trường hợp này đó là nối LineOut của Pod vào Music-In trên amp để bypass Preamp của nó, âm thanh ra khác hẳn luôn nhưng trung thực hơn rất nhiều! Còn đối với headphone, bản thân các headphone thông thường k phải là Flat Respone mà đã đều được nhà sản xuất “nhuộm” cho 1 màu sắc nào đó (trầm ấm, tươi sáng trong trẻo, dày…) thì làm sao mà ra tiếng ngon được! Phải sử dụng Headphone Studio với Flat Response ở Volume phù hợp thì may ra cứu vãn được tình thế! Đối với guitar amp thì mời anh em đọc thêm ở gạch đầu dòng thứ 3.

- Volume Level lúc căn đàn: tai người k đáp ứng như nhau với tất cả các tần số ở 1 volume level nhất định. Chúng ta chỉ nhạy với dải tần số 1-4khz và nhất là 3-4khz (hơ hơ hơ, thế này guitar sinh ra là để đi vào lòng người rồi còn rì ). Điều đó có nghĩa là chúng ta luôn nghe thấy âm thanh ở dải tần này cao hơn so với các dải tần khác.

Trên đây là biểu đồ Fletcher-Munson mô tả mức đáp ứng của tai người ở các level khác nhau trên các dải tần khác nhau. Nó chỉ ra rằng ở độ ồn khoảng 85db thì tai người đạt được trạng thái cân bằng nhất với hầu hết các tần số. Đây chính là volume level hợp lý để căn tiếng và mix nhạc. Nhưng làm sao để biết mình đang nghe ở 85db? +_+ cái này phải nhờ đến các thiết bị Volume Meter để đo đạc, giá thấp nhất tầm 60$ (tại US) thì phải, mẹ ơi! T_T Cái này thì tớ k đề ra giải pháp gì ngoài… kinh tế!

- OUTPUT MODE của POD: POD có 1 số chế độ output sau: Studio Direct (A.I.R Enabled dùng để thu âm trực tiếp hoặc đánh thẳng vào mixer); 2×12Front, 2×12 PWRAMP, 4×12Front, 4×12 PWRAMP (dùng để cắm vào Guitar Amp hoặc PowerAmp và Speaker trên sân khẩu hoặc tại nhà kèm theo tính năng tone correction để điều chỉnh sao cho giống Direct tone nhất, ở mode này A.I.R bị disable phần mic và room còn cabinet thì sẽ được đổi phương thức shaping sound sao cho âm thanh đi qua loại speaker mình chọn là ngon nhất), BOSE PS1 (sử dụng mode này khi cắm trực tiếp guitar vào BOSE PS1 Cylindrical Radiator LoudSpeaker System).

Chú ý 2 tham số Front và PowerAmp (sử dụng Options này với switch Amp/Line ở rear panel của POD được gạt sang Amp). Sử dụng Poweramp khi cắm trực tiếp lineout của POD vào 1 Poweramp (ví dụ Mesa 2:90 hoặc Marshall VHT poweramp) hoặc cắm vào ngõ Effect Return của amp đó. Sử dụng FRONT Option khi cắm trực tiếp vào 1 combo amp hoặc head thông thường (trong trường hợp này là sử dụng cả PreAmp của nó). Với Front option thì chức năng Tone Correction được enable. Theo kinh nghiệm của các kĩ sư Line6 thì các tần số nên cắt đi là bass và treble.

Nếu muốn sử dụng Distortion của amp thì phải tắt nút Amp trên POD Live hoặc chọn No Amp với POD nói chung. Khi đó POD sẽ có nhiệm vụ làm gain Booster và Effect Processor.

1 điều rất quan trọng: khi live show cho sẵn amp trên sk mà cái amp đó k hay hoặc phò quá thì tốt nhất là ĐỪNG BAO GIỜ cắm POD vào đó vì 10000000% cái amp đó còn thua cả A.I.R modeling của POD. May ra mấy con hay thấy trong show do Fantasy làm âm thanh (JCM800, JCM2000) là còn xứng đáng để cắm POD vào, nếu k thì cứ “Anh mixer ơi, cho em xin 1 đường từ phơ thẳng vào Mixer” cho nó lành!!! Nếu cắm POD trực tiếp vào Input của các Amp trên sk hoặc sử dụng distortion/overdrive channels của nó, thì phải gạt Amp/Line switch sang Amp, chọn output mode là Front, set volume out của POD nhỏ nhất có thể để nó k drive input cái amp kia. Muốn có volume thì vặn Master Volume, còn input volume của amp thì để nhỏ nhất có thể.

Sử dụng Stompbox phía trước POD: 1 lời khuyên chân thành là nên vặn nhỏ Output Level của các stompbox đó và gạt nút PAD trên POD để có âm thanh ngon nhất!

2. Computer-Based Products

2.1. Gearbox Plug-ins/POD Farm/AmpFarm

Về cơ bản, âm thanh của các Plugins này “gần như” không khác gì so với POD và hiện đang là các The HOTTEST Plugins của những sound engineer hàng đầu thế giới! Chúng ta sử dụng những Plugin này như các Effect ở đường Insert với các DI Guitar Track (thu từ các thiết bị DI khác hoặc DI Mode của POD). Âm thanh có được không khác gì khi thu âm cùng với tone đó bằng POD. Giao diện thì cực kì Sexy, k thể đỡ nổi, anh em thử lướt qua các amp do chính Line6 làm thì sẽ thấy các Engineer của Line6 thực sự là những nghệ sĩ đầy sáng tạo và có gu thẩm mỹ rất vãi lìn!

Figure 12 - ****ing Sexy!!!!!!!!!!

2.2. TonePort GX/UX1/UX2/UX8 và POD STUDIO GX/UX1/UX2.

Đây là các thiết bị chạy kèm theo máy tính và sử dụng GearBox Plugins/PODFarm Plugins/Gearbox để xử lý âm thanh. Nếu bạn k hay đi diễn hoặc làm phòng thu, thì PODSTUDIO là giải pháp perfect! Tương tự như POD Family nhưng k có máy tính thì nó chỉ là cục sắt vô dụng.

Figure 13 - PODSTUDIO - Giải pháp lý tưởng cho Home/Pro STUDIO

3. Appendix

3.1. Amp Modeling

Guitar Amplifier Models based on*:

1. “Wide panel” Fender® Deluxe Reverb®

2. Fender® Bassman®

3. Fender® Deluxe Reverb®

4. Vox® AC-30

5. Marshall® Super Lead

6. Marshall® Super Lead (”jumped” channels)

7. Roland® JC-120

8. Marshall® JCM-800

9. Soldano SLO-100

10. Mesa/Boogie® Dual Rectifier®

11. Marshall® 1974X (18W Reissue)

12. Orange AD30TC

13. L6 Treadplate

14. L6 Chemical X

15. L6 Insane

16. L6 Piezacoustic 2

17. L6 Spinal Puppet

18. L6 Tube Instrument Preamp

19. Bogner Uberschall

20. Cornford mk50h

21. Diezel VH4-Lead

22. Diezel Herbert

23. ENGL® Powerball

24. Marshall® Silver Jubilee

25. Marshall® JCM-900-Clean

26. Marshall® JCM-900-Dist

27. Marshall® JCM-2000

28. Mesa/Boogie® Triple Rectifier®

29. Peavey® 5150 II®

30. Bogner Ecstasy

31. Diezel VH4-Crunch

32. Fender® Vibroverb

33. Fender® Dual Showman® Head

34. Marshall® JMP-1

35. Vox® AC-15

36. Mesa/Boogie® Mark IIc+

37. Fender® Bassman® Head

38. Gretsch® 6156

39. Fender® Mini Twin Reverb®

40. Gibson® GA-18 Explorer®

41. Marshall® Super Bass

42. Marshall® Major

43. Silvertone® Twin Twelve

44. Supro® Thunderbolt

45. Vox® Fawn Non-Top Boost AC30

46. Dumble® Clean

47. Soldano SP88

48. Marshall® JCM 2000

49. Marshall® Super Lead Variac

50. Matchless DC-30

51. Blackface Fender® Twin Reverb®

52. Marshall® “Block Logo” JTM-45 head

53. Matchless Chieftain

54. Supro® S6616

55. Fender® Tweed Champ®

56. Hiwatt® DR-103

57. L6 Big Bottom

58. L6 Fuzz

59. L6 Octone

60. L6 Smash

61. L6 Sparkle Clean

62. L6 Throttle

63. L6 Clean

64. L6 Mood

65. L6 Agro

66. L6 Class A

67. L6 Variax Acoustic

68. L6 JTS 45

69. L6 Lunatic

70. L6 Bayou

71. L6 Crunch

72. L6 Purge

73. L6 Sparkle

74. L6 Super Clean

75. L6 SuperSpark

76. L6 Twang

77. L6 Chunk Chunk

78. Budda® Twinmaster 2×12 Combo

Bass Amplifier Models based on*:

1. Ampeg® SVT

2. Ampeg® B-15A

3. Eden Traveler WT-300

4. Fender® Bassman® head

5. Gallien Kruger 800RB

6. Hiwatt® DR-103

7. Hiwatt® 200DR

8. Fender® Dual Showman®

9. Fender® Bassman® Combo

10. Mesa/Boogie® Bass 400+

11. Polytone Minibrute

12. Sunn® Coliseum

13. SWR® SM-500

14. Versatone Pan-O-Flex

15. Vox® AC-100

16. Marshall® Major

17. Marshall® Plexi Super Bass

18. Acoustic 360

19. Aguilar® DB750

20. Alembic F-2B

21. L6 Tube Bass Preamp

22. L6 Classic Jazz

23. L6 Brit Invader

24. L6 Super Thor

25. L6 Frankenstein

26. L6 Ebony Lux

27. L6 Doppelganger

28. L6 Sub Dub

3.2. Cabinet Modeling

Guitar Cabinet Models based on*:

6×9 Supro® S6616

1×8 1961 Fender® Tweed Champ®

1×10 Gibson®

1×10 Gretsch® 6156

1×12 Line 6®

1×12 1953 Fender® Tweed Deluxe Reverb®

1×12 1964 Fender® Blackface Deluxe Reverb®

1×12 1960 Vox® AC-15

1×15 1962 Supro® Thunderbolt

2×2 Fender® Mini Twin Reverb®

2×12 Line 6® Fender®

2×12 1965 Fender® Blackface

2×12 1995 Matchless Chieftain

2×12 Roland® JC-120

2×12 1967 Vox®

2X12 1967 Silvertone® Twin Twelve

4×10 Line 6®

4×10 1959 Fender® Bassman®

4×12 Line 6® Marshall®

4×12 1967 Marshall® Basketweave with Greenbacks

4×12 1968 Marshall® Basketweave with Greenbacks

4×12 1978 Marshall® with stock 70s

4×12 1996 Marshall® with Vintage 30s

4×12 Mesa/Boogie®

Bass Cabinet Models based on*:

1×12 Euphonics® CXL-112L

1×12 Versatone® Pan-O-Flex

1×15 Ampeg® B-15

1×15 SWR® Big Ben

1×15 Ploytone® Minibrute

1×18 Acoustic 360

1×18 Mesa/Boogie®

1×18 + 12 Sunn® Coliseum

2×10 Ashdown® ABM 210T

2×15 Fender® Dual Showman®

2×15 Mesa/Boogie®

2×15 Vox® AC-100

4×10 Line 6 Original

4 x 10 Fender® Bassman® Combo w/ new speakers

4 x 10 Fender® Bassman® Combo

4 x 10 Hartke®

4 x 10 David Eden

4 x 12 Hiwatt® Bass Cab

4 x 12 1967 Marshall® Basketweave w/ Greenbacks

4 x 12 1968 Marshall® Basketweave w/ Greenbacks

4 x 15 Marshall® Major

8 x 10 Ampeg® SVT Cab

3.3. Microphone Modeling

3.3.1. Shure SM 57

Figure 14 - Shure SM57 - Legendary Mic

Shure SM57 Instrument/Vocal Mic Features:

Natural sounding

Durable bulletproof design

Used widely in studios as well as on stage

Frequency response: 40Hz-15kHz

Tight cardioid polar pattern

3.3.2. Sennheiser MD421


Figure 15 - MD421 – Power of Metal Guitarists!

Sennheiser MD421 MKII U4 Microphone Features:

5-position bass control

Very effective feedback rejection

Highly directional cardioid pickup pattern

Rugged construction

3.3.3. Neumann U67

Figure 16 - U67 - Sweetening your licks!

Neumann U87 Ai Shockmount Set Z Microphone with Box Features:

3 selectable directional patterns: omnidirectional, cardioid, and figure-8

10dB attenuation switch

127dB SPL handling

20Hz to 20kHz response

Impedance rated at 200 ohms. I

Includes a windscreen, cable, EA87 elastic suspension, and wooden jeweler’s box.

3.4. Signal Routing

3.5. Upgrading Modelpacks Trick:

Mẹo nhỏ để mua Upgrade Packs của Line6 với giá bằng 1/2 giá niêm yết (k hề bất hợp pháp)

Mẹo này cũng khá phổ biến trong giới L6 User nhưng cứ post lên đây cho anh em ai chưa biết thì đọc.
Khi mua bất cứ upgrade pack nào, nó cũng hỏi mình xem thiết bị nhận pack là j, khi đó đừng vội chọn POD ngay mà thay vào đó, chọn GuitarPort. Line6 bán Pack cho GuitarPort với giá = 1/2 cho POD Sau khi hoàn tất thủ tục mua bán, nó cho 1 cái key để activate pack đó vào thiết bị của mình. Nhưng cái key này k mang theo thông tin về thiết bị đích. Điều đó có nghĩa là ta có thể dùng PODxt để nạp cái key đó và activate upgrade pack mới mua với giá dành cho GuitarPOrt!

Oh yeah!

Leave your response!

You must be logged in to post a comment.